TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày: 25/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Văn Cang
- Ông Lê Phú Hào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh ngày 26/3/2005; Giới tính: Nam; Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Dân tộc: Chăm; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: lớp 3/12; Cha không rõ và mẹ Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; Có 02 chị, 01 em; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/11/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án hình phạt tù vào ngày 13/01/2025, Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Luật sư Ngô Tấn H1- Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Có mặt
-Bị hại: Bà Lương Thị T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- La O V, sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Mang Trí, sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 28/9/2023, Nguyễn Văn N đi bộ trong khu vực bến xe thành phố T tìm kiếm sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản. N thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số 78E1-459.26 của bà Lương Thị T, đang dựng trước nhà, có sẵn chìa khóa treo trước baga xe, không có người trông coi. N đến lấy chìa khóa, nổ máy điều khiển xe chạy về nhà tại thôn D, xã X, huyện Đ cất giấu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, La O V và Mang T1 đến nhà N chơi, T1 hỏi N xe mô tô biển số 78E1-459.26 của ai, N nói xe N mua ở N. Sau đó, N điều khiển xe mô tố biển số 78E1- 459.26, cùng T1 và V đến tiệm sửa xe máy, bán xe cho Nguyễn Xuân L (chủ tiệm sửa xe) được 2.000.000 đồng, N cho V 500.000 đồng, T1 200.000 đồng, số tiền còn lại N tiêu xài cá nhân. Ngày 15/11/2024, Cơ quan điều tra mời N làm việc và khai nhận hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã thu hồi xe mô tô trả lại cho bà T.
Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen bạc, biển số 78 E1-459.26 trị giá 8.750.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSTH ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa thực hành quyền công tố, sau khi phân tích tính chất và mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Đề nghị mức hình phạt từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Buộc bị cáo bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân L số tiền 2.000.000 đồng.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N trình bày: Thống nhất về mặt tội danh cũng như điều luật, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng núi đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất khung hình phạt.
Bị hại Lương Thị T trình bày: đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 28/9/2023 tại khu vực Bến xe phường D, thành phố T, Nguyễn Văn N đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô trị giá 8.750.000 đồng của bà Lương Thị T. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 23/CT-VKSTH ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.1] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Ngày 28/9/2023, bị cáo lén lút lấy trộm 01 chiếc xe máy tại khu vực Bến xe phường D, thành phố T, chưa bị xử lý thì tiếp tục 12/7/2024, bị cáo lại có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô tại thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên và bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân xử phạt 06 (sáu) tháng tù và chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/01/2025. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo N tỏ ra ăn năn hối cải, thật thà khai báo, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Hoàn cảnh bị cáo khó khăn, là người đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xét giảm hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà sớm cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[2.2] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân L trình bày khi mua xe 78 E1-459.26 với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) nhưng không biết xe bị cáo bán là N trộm cắp mà có và cơ quan điều tra đã thu giữ xe và trả lại cho bị hại. Do đó, yêu cầu bị cáo N trả lại số tiền 2.000.000 đồng. Xét yêu cầu này là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Xuân L 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
[2.3] Đối với L1 0 Viên, Mang T1 đi bán xe mô tô biển số 78 E1-459.26 nhưng không biết là tài sản do N trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với hành vi của Nguyễn Xuân L mua xe mô tô biển số 78 E1-459.26 do Nguyễn Văn N trộm cắp được nhưng không biết tài sản này do N trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[3] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N có đơn xin miễn án phí, đồng thời bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn N miễn án phí Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
Bị hại bà Lương Thị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho ông Nguyễn Xuân L 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn N được miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoa Dung |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Nghĩa phạm tội Trộm cắp tài sản
