|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày: 24 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà La Thị Huệ - Nơi công tác: Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Kạn (Nguyên cán bộ Tỉnh đoàn Bắc Kạn).
Ông Vi Thanh Cầm - Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà và ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 18/6/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 02/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/HSST-QĐ ngày 18/6/2025 đối với bị cáo:
Đặng Mùi P (Tên gọi khác: Đặng Thanh T), sinh ngày 27 tháng 9 năm 1996 tại tỉnh Cao Bằng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T (nay là xóm T), thị trấn T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Đặng Tràn P1 và bà Phùng Mùi D; chồng: Không có - chung sống như vợ chồng với Sỹ Văn N (Sỹ Văn H); con: Có 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- - Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt Đặng Mùi P 07 năm tù về tội “Mua bán người”.
- - Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử tuyên phạt Đặng Mùi P 12 năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán người” của bản án số 13/2020/HS-ST ngày 05/5/2020, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 19 (mười chín) năm tù.
Bị cáo đang chấp hành án từ ngày 05/12/2019 tại Trại giam Q - Bộ C1 (tỉnh Tuyên Quang) cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- * Người bào chữa cho bị cáo Đặng Mùi P: Bà Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 1990; Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B - Có mặt tại phiên tòa.
- * Bị hại: Phùng Thị C, sinh ngày 03/10/ 2000; trú tại: Thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt tại phiên tòa
- * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Tạ Ngọc V, Luật sư Văn phòng L2 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H, địa chỉ: Số H Hồ N, quận H, TP Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại: Phùng Văn N1, sinh năm 1979; trú tại: Thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (bố đẻ của bị hại - Có mặt tại phiên tòa).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng: Sỹ Văn N (Tên gọi khác: Sỹ Văn H), sinh năm 1990; trú tại: Thôn K, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- * Người làm chứng:
- Phùng Thị K, sinh năm 1998; trú tại: Thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
- Lý Đại H2, sinh năm 2000; trú tại: Khu B, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Hà Giang - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp nhận đơn trình báo của ông Phùng Văn N1, sinh năm 1979, trú tại thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn về việc con gái là Phùng Thị C, sinh năm 2000, trú cùng địa chỉ bị lừa bán sang Trung Quốc. Sau khi tiếp nhận, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành giải quyết vụ việc. Ngày 07/02/2020, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B nhận được thông báo của Cơ quan điều tra Công an tỉnh C về việc Đặng Mùi P, sinh năm 1996, trú tại xóm T (nay là xóm T), thị trấn T, huyện N, tỉnh Cao Bằng khai nhận được đưa người tên Phùng Thị C, sinh năm 2000, trú tại thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để bán cho người đàn ông nước Trung Quốc lấy làm vợ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định:
Trong thời gian sang bên nước Trung Quốc làm thuê Đặng Mùi P có quen biết với một người phụ nữ là người Việt Nam tên là Sỹ Thị X, quê quán xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang đã lấy chồng người nước Trung Quốc và hiện đang sinh sống tại trấn M, huyện P, C, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Qua trao đổi, Sỹ Thị X bảo Đặng Mùi P tìm phụ nữ người Việt Nam đưa sang Trung Quốc để bán cho người Trung Quốc có nhu cầu mua về làm vợ. Khoảng tháng 5 năm 2018, Đặng Mùi P liên hệ với Phùng Thị K, sinh năm 1998, trú tại thôn V, xã H, huyện B qua ứng dụng Zalo và Facebook M để rủ đi làm công nhân ở công ty, nhưng K từ chối vì có con nhỏ. Đến khoảng đầu tháng 8 năm 2018, P tiếp tục nhắn tin nhờ Khe tìm người đi làm công nhân thì K hỏi P là người mù một mắt có được nhận làm không? thì P trả lời là được nhận. Do tin tưởng, Phùng Thị K đã giới thiệu em gái ruột là Phùng Thị C, sinh ngày 03/10/2000 (trú cùng địa chỉ với K) cho Đặng Mùi P. Đến ngày 04/8/2018, Đặng Mùi P điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 23M1-137.48 đến đoạn đường thuộc thôn Bản Mới, xã H, huyện B để đón Phùng Thị C, K là người chở C ra điểm hẹn. Sau khi đón được Phùng Thị C, P điều khiển xe từ xã H, huyện B chở C đi theo hướng huyện B và Bảo L, tỉnh Cao Bằng rồi đi đến huyện Y, tỉnh Hà Giang. Trên đường đi đến trung tâm huyện Y, do xe mô tô bị hỏng nên P gọi cho Sỹ Văn N, sinh năm 1990, trú tại thôn K, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang (có quan hệ yêu đương nam nữ với P) để Nhiền giúp sửa xe, do trời đã tối nên N thuê phòng để nghỉ qua đêm. Đêm ngày 04/8/2018 P, C và N cùng nghỉ tại nhà nghỉ Y thuộc thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Sáng ngày 05/8/2018, N đi về nhà còn P tiếp tục chở C đi đến khu vực biên giới thuộc xã P, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Khi ở khu vực biên giới, Đặng Mùi P gọi điện thoại nhờ Lý Đại H2, sinh năm 2000, trú tại Khu B, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Hà Giang (H2 là cháu ruột của Sỹ Văn N và Sỹ Thị X) đến lấy xe môtô về nhà Hoàng cất. Sau đó, P gọi điện thoại cho Sỹ Thị X bảo cho người đến đón. Sau khi Lý Đại H2 đến lấy xe, Đặng Mùi P đưa Phùng Thị C đi bộ qua đường mòn tiểu ngạch (đường tuần tra biên giới, gần cột mốc biên giới số 379) để vượt biên trái phép sang Trung Quốc. Khi đến biên giới chồng của Sỹ Thị X (người Trung Quốc, chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã điều khiển xe ô tô đến chờ ở khu vực biên giới, đón Đặng Mùi P và Phùng Thị C để đưa về nhà X. P và C ở nhà X được khoảng 01 tuần thì có 03 người đàn ông và 01 người phụ nữ đến xem mặt C (những người đó là bố của chồng, chú của chồng, cậu, mợ của chồng Phùng Thị C sau này). Sau khi đồng ý mua Phùng Thị C với giá 25.000 (hai mươi năm nghìn) Nhân dân tệ, người đàn ông (là cậu của chồng Phùng Thị C) có viết tờ giấy thỏa thuận tự nguyện kết hôn bằng chữ Trung Quốc (viết thành 02 bản) rồi cho Phùng Thị C, Sỹ Thị X viết tên, điểm chỉ lên tờ giấy đó, một bản do gia đình chồng Phùng Thị C giữ, một bản giao cho Sỹ Thị X (sau đó X đưa lại cho Đặng Mùi P). Sau khi giao dịch xong, Đặng Mùi P bảo Phùng Thị C đi theo những người đó, khi có cơ hội thì bỏ trốn, P và X sẽ đón. Sau đó, Phùng Thị C được đưa đến thôn C, trấn N, huyện Q, C, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc kết hôn với Hà Triều K1 (Hé C), sinh năm 1996 cho đến khi được giải cứu đưa về Việt Nam vào ngày 02/01/2025.
Tại biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường ngày 14/8/2024 tại đường tỉnh lộ 253, thuộc thôn Bản Mới, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn ngày 16/8/2024 tại Nhà nghỉ Y, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang và ngày 16/8/2024 tại thị trấn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Hà Giang của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B xác định: Hiện trường, xác định vị trí xảy ra vụ việc vào năm 2018, Đặng Mùi P đã đến đón Phùng Thị C sau đó di chuyển đưa nạn nhân bán sang Trung Quốc.
Tại biên bản, bản ảnh nhận dạng ngày 06/01/2025 tại Phòng C2 Công an tỉnh B và ngày 09/01/2025 tại Trại giam Q - Bộ C1, Phùng Thị C đã nhận dạng được người bán sang Trung Quốc vào khoảng tháng 8 năm 2018 là Đặng Mùi P.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Đặng Mùi P thành khẩn khai báo toàn bộ diễn biến hành vi. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường; nhận dạng; lời khai của bị hại; lời khai của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác đã thu thập được như biên bản làm việc với Phùng Thị C qua mạng Internet.
Tại văn bản số 45/BKA-THKT ngày 15/01/2025 của Ngân hàng N3 chi nhánh tỉnh B (nay là Ngân hàng N3 khu vực V tại tỉnh Thái Nguyên), về việc cung cấp thông tin về tỷ giá. Trên trang thông tin điện tử của Ngân hàng N3 công bố tỷ giá tính chéo của Đ (VND) với Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY) từ ngày 01/8/2018 đến ngày 30/8/2018 như sau:
- “- Số liệu tỷ giá tính chéo trong tháng 8/2018: Chi tiết theo biểu đính kèm.
- - Giá trị thấp nhất trong tháng 8/2018:
- 1 CNY (Một nhân dân tệ Trung Quốc) = 3.284,02 VND (Ba nghìn hai trăm tám mươi tư phẩy không hai đồng Việt Nam).
- - Giá trị cao nhất trong tháng 8/2018:
- 1 CNY (Một nhân dân tệ Trung Quốc) = 3.351,03 VND (Ba nghìn ba trăm năm mươi mốt phẩy không ba đồng Việt Nam).
Tại Bản cáo trạng số: 22/CT-VKSBK-P1 ngày 14/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Đặng Mùi P về tội “Mua bán người” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự.
Điều 150 của Bộ luật Hình sự có nội dung:
- “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
- d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của N4;
- 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
* Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo Đặng Mùi P (Tên gọi khác: Đặng Thanh T) phạm tội “Mua bán người”.
- Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 150; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đặng Mùi P từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
- Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 19 (mười chín) năm tù tại bản án sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam là ngày 05/12/2019.
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 33.243.400 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA; số loại: Wave Alpha; màu sơn đỏ đen bạc; gắn biển kiểm soát 23M1-137.48 (kèm theo chìa khóa xe).
- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ghi nhận sự thỏa thuận giữ bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại. Buộc bị cáo Đặng Mùi P phải bồi thường cho bị hại Phùng Thị C số tiền 40.000.000 đồng.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bị cáo.
- - Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận bồi thường cho bị hại.
- - Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 40.000.000 đồng và đề nghị xét xử bị cáo đúng quy định của pháp luật.
- - Người bào chữa cho bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đều nhất trí với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX quyết định mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để khẳng định:
Ngày 04/8/2018 tại đoạn đường thuộc thôn Bản Mới, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Đặng Mùi P đã có hành vi lừa gạt là rủ và đưa Phùng Thị C, sinh ngày 03/10/2000, trú tại thôn V, xã H, huyện B đi làm công nhân ở tỉnh Tuyên Quang nhưng bị cáo đã đưa chị C đến huyện Y, tỉnh Hà Giang rồi đi theo đường tiểu ngạch tại xã P, huyện Đ, tỉnh Hà Giang sang Trung Quốc rồi bán cho một người đàn ông là Hà Triều K1 (Hé C), sinh ngày 15/10/1996, trú tại thôn C, trấn N, huyện Q, C, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc để làm vợ, qua đó P hưởng lợi số tiền 10.000 CNY (mười nghìn Nhân dân tệ Trung Quốc), tương đương 33.243.400₫ (ba mươi ba triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm Việt Nam đồng).
Hành vi của bị cáo Đặng Mùi P phạm tội “Mua bán người” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự. Việc cáo trạng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, coi con người là hàng hóa để bán kiếm lời, xâm phạm đến quyền tự do, quyền con người của người bị hại, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo mới đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy:
- Bị cáo nhân thân xấu, hiện đang chấp hành án phạt tù về các tội danh “Mua bán người”, “Mua bán người dưới 16 tuổi”.
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 04/8/2018 trước khi bị kết án ngày 05/5/2020 và ngày 18/3/2022, do vậy lần phạm tội này không coi là tái phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đặng Mùi P là lao động tự do không có thu nhập ổn định, gia đình khó khăn. Do vậy, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 150 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Quá trình điều tra, bị hại là Phùng Thị C yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm là 80.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 40.000.000 đồng. Bị cáo Đặng Mùi P2 nhất trí với yêu cầu bồi thường của bị hại. Xét thấy, nội dung thỏa thuận trên, không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, được chấp nhận. Do bị hại chưa nhận được khoản tiền bồi thường của bị cáo, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường theo thỏa thuận trên.
[8] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 10.000 CNY (mười nghìn Nhân dân tệ Trung Quốc) quy đổi thành tiền Việt Nam đồng tương đương 33.243.400₫ (ba mươi ba triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn, bốn trăm đồng). Bị cáo P khai đã đưa cho Sỹ Văn N2 (H) một nửa là 5.000 CNY (năm nghìn Nhân dân tệ Trung Quốc) quy đổi thành tiền Việt Nam đồng tương đương 16.621.700đ (mười sáu triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm đồng), nhưng N không thừa nhận. Số tiền còn lại trên P khai đã chi tiêu cá nhân hết. Xét thấy đây là tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền trên để nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Về vật chứng:
Đối với 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu sơn đỏ đen bạc, Biển kiểm soát 23M1-137.48, số máy: JA39E0132581, số khung: RLHJA3902HY132535, kèm theo chìa khóa xe, xe đã cũ qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Sỹ Văn N (do P không có giấy tờ cá nhân, hộ khẩu ở tỉnh Hà Giang nên nhờ Nhiền đăng ký hộ), chủ sở hữu là Đặng Mùi P sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại, bị cáo dùng để trao đổi liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội, đã được xử lý trong Bản án số 13/2020/HS-ST ngày 05-5-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
[10] Về các nội dung khác trong vụ án:
Đối với Phùng Thị K (chị gái của Phùng Thị C), sau khi Đặng Mùi P rủ đi làm công nhân tại tỉnh Tuyên Quang, do K không có nhu cầu đi làm, nhưng không biết mục đích ban đầu của P là sẽ đưa người sang bên Trung Quốc để bán. Khe không biết sự việc, nên đã giới thiệu em gái là Phùng Thị C đi và dùng xe chở C đến giao cho P để đưa sang Trung Quốc bán, nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm xử lý là đúng pháp luật.
Đối với người đàn ông Trung Quốc là Hà Triều K1 (Hé C), sinh ngày 15/10/1996, trú tại thôn C, trấn N, huyện Q, C, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã mua Phùng Mùi Coi với P về làm vợ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B không thu thập được thông tin cá nhân và địa chỉ nơi cư trú cụ thể của người đàn ông đó nên không đủ căn cứ đề nghị cơ quan chức năng phối hợp xác minh, tương trợ tư pháp để làm rõ đối với người này là đúng pháp luật.
Đối với người đàn ông cụt tay bên nước Trung Quốc, theo lời khai của bị hại Phùng Thị C, người này đi xe ôtô đến đón có tham gia cùng với Sỹ Thị X để mua bán C, nhưng C không biết tên, địa chỉ cụ thể. Nên không đủ căn cứ đề nghị cơ quan chức năng phối hợp xác minh, tương trợ tư pháp để làm rõ đối với người này có liên quan đến vụ án hay không.
Đối với nội dung bị hại Phùng Thị C trình bày trong quá trình sinh sống tại nước Trung Quốc có quen biết một người phụ nữ tên L1 là người Việt Nam cũng bị Đặng Mùi P lừa bán sang Trung Quốc để làm vợ, nhưng C không biết thông tin địa chỉ cụ thể của người phụ nữ tên L1 bị lừa bán. Quá trình điều tra không có đủ cơ sở xác minh, làm rõ, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trong vụ án là đúng pháp luật.
Đối với Lý Đại H2, H2 chỉ giúp P đến lấy xe mang về cất hộ, không tham gia, không biết Đặng Mùi P đưa người sang Trung Quốc bán, cũng không được hưởng lợi gì, không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm là đúng pháp luật.
Đối với Sỹ Văn N (Sỹ Văn H), theo lời khai của Đặng Mùi P khi P đưa Phùng Thị C sang Trung Quốc bán thì N biết sự việc, giới thiệu, giúp P liên lạc với X, chỉ đường tiểu ngạch cho P và được hưởng lợi 15.000.000đ (mười năm triệu đồng) từ việc bán Phùng Thị C (việc chia tiền do Sỹ Thị X, chị gái của N chỉ đạo). Qua điều tra xác định N không thừa nhận, ngày 09/01/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Sỹ Văn N và Đặng Mùi P đối chất, nhưng N vẫn không thừa nhận, ngoài lời khai của Pham, không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện có liên quan đến vụ việc.
Đối với Sỹ Thị X (là người Việt Nam hiện đang sinh sống tại Trung Quốc) là chị gái của Sỹ Văn N, theo lời khai của Đặng Mùi P, X là người môi giới và tìm khách là người Trung Quốc có nhu cầu mua phụ nữ là người Việt Nam để làm vợ. Tuy nhiên, hiện nay đang sinh sống tại bên nước Trung Quốc, nên khó khăn trong công tác điều tra, xác minh đối với X. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B không thu thập được thông tin cá nhân và địa chỉ nơi cư trú cụ thể của người phụ nữ tên X nên không đủ căn cứ đề nghị cơ quan chức năng phối hợp xác minh, tương trợ tư pháp để làm rõ đối với người này có đồng phạm với P hay không.
Do chưa có đủ căn cứ để xử lý đối với Sỹ Thị X và Sỹ Văn N, tuy nhiên sẽ tiếp tục điều tra, xác minh thu thập các tài liệu chứng cứ, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác là đúng pháp luật.
Đối với hành vi xuất, nhập cảnh trái phép của Đặng M1 Pham qua Trung Quốc và về Việt Nam từ năm 2018 để bán Coi. Qua điều tra xác định, hiện nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, nên Cơ quan điều tra không đề nghị xem xét xử lý đối với Đặng Mùi P về hành vi này là đúng pháp luật.
Đối với hành vi xuất cảnh trái phép của Phùng Thị C qua Trung Quốc từ năm 2018, do là nạn nhân bị đưa sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch mục đích ban đầu của C là đi cùng để làm công nhân kiếm tiền và không lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác, nên hành vi của C không phải là cố ý, nên Cơ quan điều tra không đề nghị xem xét xử lý đối với Phùng Thị C là đúng pháp luật.
[11] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại thị trấn T, huyện N, tỉnh Cao Bằng là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 150; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Mùi P (Tên gọi khác: Đặng Thanh T) phạm tội “Mua bán người”.
Xử phạt bị cáo Đặng Mùi P (Tên gọi khác: Đặng Thanh T) 08 (tám) năm tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 19 (mười chín) năm tù về tội "Mua bán người dưới 16 tuổi", tội “Mua bán người” tại bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 27 (hai mươi bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam là ngày 05/12/2019.
2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 33.243.400đ (ba mươi ba triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA; số loại: Wave Alpha; màu sơn đỏ đen bạc; gắn biển kiểm soát 23M1-137.48, số máy: JA39E0132581; số khung: RLHJA3902HY132535; dung tích xi lanh 109cm³; năm sản xuất 2017 (kèm theo chìa khóa xe).
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 15/5/2025 giữa Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
4. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại. Buộc bị cáo Đặng Mùi P phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Phùng Thị C số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
Việc chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Mùi P được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Mùi P, bị hại Phùng Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Văn N1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sỹ Văn N (Sỹ Văn H) vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án sao hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Doanh |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về mua bán người
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Mùi Pham phạm tội "Mua bán người"
