Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày 20-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Tư

Ông Vũ Văn Khang

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật H - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Công T, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1952 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số G A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công D và bà Đàm Thị N; có vợ là bà Đoàn Thị Lan H1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/9/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 07/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận N, Hải Phòng bắt quả tang các đối tượng Phạm Thị M (sinh năm 1962, ĐKHKTT: Tổ A, Cụm B, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, nơi ở: 7 Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng), Vũ Đức T1 (sinh năm 1973, nơi cư trú: 2 A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng), Phạm Thị Q (sinh năm 1971, nơi thường trú: Số A L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng, nơi ở: Số B A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng), Phạm Thị N1 (sinh năm 1962, nơi cư trú: số F Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng) có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bài “ù” tại nhà số G A, Đ, Ngô Q1, Hải Phòng của Nguyễn Công T. Cơ quan điều tra thu giữ: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, số tiền 5.090.000 đồng, 01 hộp kim loại hình trụ tròn đường kính khoảng 10 cm bên trong có 60.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Công T, Phạm Thị M, Vũ Đức T1, Phạm Thị Q, Phạm Thị N1 khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/4/2020, M, N1, T1, Q đến nhà T để tham gia đánh bạc. Tại đây T đưa cho cả nhóm một bộ bài tú lơ khơ 52 quân để cả nhóm đánh bạc. T1, M, N1, Q đồng ý và thống nhất dùng bộ bài trên để đánh “ù” ăn tiền. Luật chơi cụ thể là: bài có “phỏm” là có ít nhất ba quân xếp dọc theo thứ tự cùng chất hoặc ngang cùng số khác chất. Bài “cháy” là bài không có “phỏm”. Bài “ù” tức là tất cả các lá bài thành 01 “phỏm” hoặc 02 “phỏm”. Người có bài về nhất thì thắng tất cả số tiền của những người thua, người có bài về nhì thua 10.000 đồng, người có bài về ba thua 20.000 đồng, người của bài về tư thua 30.000 đồng, người nào không có “phỏm” (bài cháy) thì thua 50.000 đồng, người nào có bài ù thì ba người còn lại mỗi người thua 100.000 đồng. Thế là người thu tiền “hồ” với quy định mỗi ván có người “ù” thì bỏ ra 10.000 đồng tiền “hồ”, nếu có người ù thông (tức là ù hai ván liên tiếp) hoặc ù đồng hoa (là tất cả các lá bài đều cùng chất) thì phải bỏ ra 20.000 đồng. Tiền “hồ” cho vào một hộp kim loại hình trụ tròn do T đặt cạnh chiếu bạc. Thống nhất xong Q chia bài cho N1, Q, T1, M cùng đánh bạc còn T ngồi xem mọi người đánh bạc. Trước khi đánh bạc, N1 mang theo 1.150.000 đồng, Q mang theo 1.000.000 đồng, T1 mang theo 700.000 đồng, M mang theo 2.300.000 đồng, đều sử dụng để đánh bạc hết. Cả nhóm đánh bạc liên tục khoảng 15 ván, kết quả, N1 thắng 400.000 đồng, M thắng 300.000 đồng, T1 thua 500.000 đồng và Q thua 260.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 07/4/2020, cả nhóm bị Công an quận N vào bắt quả tang.

Bên cạnh đó, các đối tượng còn khai: Ngoài lần đánh bạc bị bắt quả tang ngày 07/4/2020, M, T1, Q, N1 còn đánh “ù” tại nhà Nguyễn Công T vào các ngày 05, 06/4/2020 với cách thức tương tự như ngày 07/4/2020 nhưng không nhớ số tiền dùng để đánh bạc và kết quả thắng thua cụ thể.

Quá trình điều tra, Nguyễn Công T khai nhận hành vi như trên, đồng thời xuất trình các tài liệu thể hiện T bị bệnh loạn thần thực tổn (F06), thường xuyên vào điều trị tại Bệnh viện T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N đã ra trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Công T. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 177/KLGĐ ngày 14/11/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: Nguyễn Công T bị bệnh động kinh, không bị bệnh tâm thần. Tại thời điểm xảy ra vụ án đánh bạc ngày 07/4/2020, Nguyễn Công T không bị bệnh tâm thần. Nguyễn Công T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại, Nguyễn Công T không bị bệnh tâm thần, Nguyễn Công T đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Bản án số 101/2020/HS-ST ngày 23/9/2020, Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền đã xét xử các bị cáo Vũ Đức T1, Phạm Thị M, Phạm Thị Q, Phạm Thị N1 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo M 07 tháng tù; bị cáo N1 12 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo Q 12 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo T1 09 tháng cải tạo không giam giữ. Đồng thời, Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền đã tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 hộp kim loại hình trụ tròn đường kính khoảng 10 cm, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.150.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSNQ ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Đánh bạc” theo điểm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm i, o, s, v, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Công T tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự, miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo Nguyễn Công T.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Công T kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng khoan hồng pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 07/4/2020 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 07/4/2020, tại số G A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Công T đã sử dụng địa điểm nhà của mình, cung cấp bộ bài tú lơ khơ để 04 người là Vũ Đức T1, Phạm Thị M, Phạm Thị Q, Phạm Thị N1 đánh bạc thắng thua dưới hình thức chơi bài “ù”, nhằm mục đích thu tiền hồ. Số tiền dùng đánh bạc là 5.090.000 đồng, số tiền thu hồ là 60.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, hành vi của bị cáo Nguyễn Công T đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Công T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người đủ 70 tuổi trở lên; trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, Huân chương kháng chiến hạng nhì do Chủ tịch nước tặng; là người có công với cách mạng do hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học (theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội). Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, o, s, v, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vai trò: So với các bị cáo đã xét xử thì bị cáo Nguyễn Công T có vai trò thấp hơn.

[6] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét không cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Công T khỏi xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo là người già nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Xét bị cáo là người già yếu nên căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự, miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.

- Về án phí:

[9] Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm i, o, s, v, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Công T tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Công T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Công T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự: Miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo Nguyễn Công T.

“Trong trường hợp bị cáo áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

“1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án."

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Công T kể từ ngày tuyên án.

Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Công T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Công T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thụ lý số 15
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger