|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày: 20/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đặng Hoàng Mích.
- 2. Ông Nguyễn Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn – Kiểm Sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh ngày 27/7/1983; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); Nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre); Chỗ ở hiện tại: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Mai Thị D1; Chồng: Huỳnh Thanh H; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2022; Có 04 người anh, chị, em ruột, lớn sinh năm 1968, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 18/7/2024, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPHC, phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 16/8/2024. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/6/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Hợp tác xã T2;
Địa chỉ trụ sở chính: Thừa Lợi, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long).
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1972 – Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long).
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn V, sinh năm 1987;
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt).
(Theo giấy ủy quyền số 281/UQ-HTX ngày 17/11/2025 của người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã T2).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thanh H, sinh năm 1981;
Nơi cư trú: ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Nguyễn Cẩm G, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPHC ngày 18/7/2024, phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 16/8/2024, tính đến ngày 20/12/2024 là không được 01 năm, không được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 20 tháng 12 năm 2024, Công an xã T (nay là Công an xã T) tuần tra trên khu vực bãi nuôi nghêu của Hợp tác xã T2 thuộc ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) phát hiện Nguyễn Thị T và chồng là Huỳnh Thanh H đang mang vác nghêu thịt vào bờ biển nên lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng gồm: Nghêu thịt có khối lượng 33 kilôgam, có kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam; 01 (một) xe môtô biển số 71C1-702.30, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu xanh bạc, số khung RLHJA3927NY498343, số máy JA39E2953411; 01 (một) túi lưới màu xanh; 01 (một) giỏ xách bằng nhựa màu vàng đỏ. Ngày 21/12/2024, Công an xã T (nay là Công an xã T) đã trả lại nghêu thịt có khối lượng 33 kilôgam, có kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam cho Hợp tác xã T2.
Quá trình điều tra đã xác định: Vào khoảng 9 giờ ngày 20 tháng 12 năm 2024, Nguyễn Thị T đi bộ từ nhà thuộc ấp T, xã T (nay là xã T) đến bãi nuôi nghêu của Hợp tác xã T2 thuộc thửa đất số 1, tờ bản đồ số 31, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 514467 ngày 14/7/2008 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Hợp tác xã T2 để bắt trộm nghêu. Vị trí T bắt trộm nghêu cách bờ biển khoảng 292 mét, T dùng tay bắt nghêu thịt rồi để nghêu thịt vào túi lưới màu xanh. Khi túi lưới đã đầy nghêu thịt, T không bắt nữa mà kéo túi lưới chứa nghêu thịt có khối lượng 33 kilôgam, kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam đi ra khỏi bãi nuôi nghêu của Hợp tác xã T2. T để lại túi lưới chứa nghêu thịt dưới bãi biển rồi đi bộ về nhà. Sau khi về nhà, T tắm, thay quần áo rồi điều khiển xe mô tô biển số 71C1-702.30 chạy ra bờ biển rồi đi bộ xuống bãi biển để mò tìm lại túi lưới chứa nghêu thịt mà T đã bắt trộm. Lúc này, T nhìn thấy chồng mình là Huỳnh Thanh H đang tắm dưới bãi biển nên T nhờ H mang vác túi lưới chứa nghêu thịt vào bờ biển. Khi cả hai vừa đi đến bờ biển thì bị Công an đến kiểm tra, Huỳnh Thanh H bỏ chạy theo hướng ra biển. Qua làm việc, T thừa nhận túi lưới màu xanh chứa nghêu thịt có khối lượng 33 kilôgam, kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam là T vừa bắt trộm của Hợp tác xã T2.
Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận tại thời điểm bị mất trộm, nghêu thịt khối lượng 33 kilôgam, kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam có giá trị vào ngày 20/12/2024 là 1.518.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSKV8 ngày 13/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
* Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T với mức hình phạt từ 01 (một) năm tù đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Thị T không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
- - Ngày 21/12/2024, Công an xã T (nay là Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long) đã trả lại nghêu thịt có khối lượng 33 kilôgam, có kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam cho Hợp tác xã T2 nên ghi nhận.
- - Áp dụng điểm a và điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a và điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) xe mô tô biển số 71C1-702.30, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu xanh bạc, số khung RLHJA3927NY498343, số máy JA39E2953411 vì đây là tài sản do bị cáo đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, không có liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) túi lưới màu xanh; 01 (một) giỏ xách bằng nhựa màu vàng đỏ do đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị.
- * Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã T2 là ông Võ Văn T1 đã nhận lại nghêu thịt bị bắt trộm và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị T bồi thường gì thêm nên ghi nhận.
Riêng đối với: Hành vi của Huỳnh Thanh H tham gia mang vác nghêu thịt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng H chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long) xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự theo bản án hình sự số 06/2011/HS-ST ngày 11/3/2011, đã được xóa tiền án nên hành vi của H không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của H có dấu hiệu vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã chuyển tài liệu có liên quan đến Công an xã T để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản là 33 kilôgam nghêu thịt của Hợp tác xã T2 với diễn biến như nội dung Cáo trạng đã xác định. Bị cáo xin nhận lại 01 xe mô tô biển số 71C1-702.30, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA và không có yêu cầu nhận lại 01 (một) túi lưới màu xanh; 01 (một) giỏ xách bằng nhựa màu vàng đỏ. Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm. Về trách nhiệm hình sự, bị hại yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận nên Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi của bị cáo. Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Huỳnh Thanh H đã bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 20/12/2024. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng đến nay ông H không có mặt tại địa phương và vắng mặt tại phiên tòa. Người làm chứng Nguyễn Cẩm G vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra. Bị cáo, bị hại và những người tiến hành tố tụng khác không có ý kiến gì về việc vắng mặt của những người này. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B (cũ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Vĩnh Long), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thị T tại tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu liên quan do Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do động cơ tư lợi bất chính, nên Nguyễn Thị T là người bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa tiền sự đã có hành vi lén lút lấy trộm 33 kilôgam nghêu thịt, kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam của Hợp tác xã T2, có giá trị là 1.518.000 đồng. Vụ việc xảy ra vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 20/12/2024 tại nhà ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và hậu quả xảy ra đúng như bị cáo mong muốn. Việc làm của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân về nguy cơ bị chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần xử lý bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, mới đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn do tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ xem xét các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[7] Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này ra luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang trực tiếp nuôi 02 con nhỏ. Đối chiếu theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên được HĐXX ghi nhận.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 71C1-702.30, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu xanh bạc, số khung RLHJA3927NY498343, số máy JA39E2953411 thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 (một) túi lưới màu xanh; 01 (một) giỏ xách bằng nhựa màu vàng đỏ là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy.
[10] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng trong vụ án phù hợp với nhận định nêu trên nên được HĐXX chấp nhận. Đối với hình phạt chính mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nhưng tại tòa bị cáo đã rất ân hận về hành vi của bị cáo, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xét cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn so với đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Bên cạnh đó, bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[11] Đối với Huỳnh Thanh H có hành vi tham gia mang vác nghêu thịt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng H chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản. H từng bị Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long) xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự theo bản án hình sự số 06/2011/HS-ST ngày 11/3/2011, đã được xóa tiền án nên cơ quan điều tra xác định hành vi của H không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự mà có dấu hiệu vi phạm hành chính, đồng thời chuyển tài liệu có liên quan đến Công an xã T để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 20/11/2025.
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển số 71C1-702.30, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu xanh bạc, số khung RLHJA3927NY498343, số máy JA39E2953411.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 túi lưới màu xanh và 01 giỏ xách bằng nhựa màu vàng đỏ.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Triều |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do động cơ tư lợi bất chính, nên Nguyễn Thị T là người bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa tiền sự đã có hành vi lén lút lấy trộm 33 kilôgam nghêu thịt, kích cỡ trung bình 28 con/kilôgam của Hợp tác xã T2, có giá trị là 1.518.000 đồng. Vụ việc xảy ra vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 20/12/2024 tại nhà ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
