Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 30/2025/HS-ST

 

Ngày: 20 - 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

----------

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thu Hằng.

Bà Nguyễn Thị Nguyệt.

-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thúy Vi -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa:

Bà Ma Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST - HS, ngày 16 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thanh T; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 28/9/1983.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Minh T1 (đã chết), con bà: Nguyễn Thị C; Vợ: Ngô Thị L và có 04 con; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/02/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Đào Quý Q, sinh năm 1978/ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  2. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1989/ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1990/ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Nơi cư trú: Tổ C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  4. Bà Bùi Thị Trang N, sinh năm 1982/ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Nơi cư trú: Tổ F, phường Y, quận H - Hà Nội.

    Nơi tạm trú: Phường H, quận H - Hà Nội.

Người làm chứng:

  1. Ông Lê Minh T3, sinh năm 1994/ vắng mặt.

    Nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Ông Hoàng Văn T4, sinh năm 1992/ vắng mặt.

    Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  2. Bà Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1978/ vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952/ vắng mặt.

    Trú tại: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  4. Chị Ngô Thị L, sinh năm 1988/ vắng mặt.

    Trú tại: TDP N, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người chứng kiến: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1960/ vắng mặt.

Trú tại: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thực hiện Kế hoạch số 512/KH-CAT-PC08 ngày 11/12/2024 của Công an tỉnh T về thực hiện cao điểm đảm bảo trật tự toàn giao thông trên các tuyến giao thông dịp tết dương lịch, tết Nguyên đán Ất Tỵ và các lễ hội đầu xuân năm 2025. Hồi 19 giờ 00 phút ngày 08/02/2025, tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T phối hợp Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Đ (cũ) làm nhiệm vụ tại km 134+900 Quốc lộ A thuộc tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác có 06 người gồm các ông Đào Quý Q- Cán bộ Phòng C1 Công an tỉnh T - Tổ trưởng; ông Hoàng Văn T4; bà Nguyễn Thị Thanh T5; ông Nguyễn Xuân H; ông Hoàng Văn T2 và ông Lê Minh T3 đều là cán bộ Công an huyện Đ (cũ).

Theo nhiệm vụ được phân công, ông Q và ông T4 làm nhiệm vụ phát hiện dừng phương tiện để kiểm tra; ông H sử dụng máy đo nồng độ cồn thực hiện việc đo kiểm tra nồng độ cồn của người bị kiểm tra; Bà T5 tiến hành lập biên bản đối với người vi phạm; Ông T2 và ông T3 làm nhiệm vụ hỗ trợ việc dừng phương tiện kiểm tra.

Khoảng 20 giờ 11 phút cùng ngày, khi tổ công tác đang thực hiện nhiệm vụ, ông Q ra tín hiệu dừng phương tiện giao thông để kiểm tra nồng độ cồn qua khí thở đối với Nguyễn Thanh T điều khiển xe môtô nhãn hiệu: Honda, BKS: 29T1 - 206.37 di chuyển theo hướng xã K, huyện Đ đi phường C, thành phố T. Phát hiện lực lượng Cảnh sát giao thông ra tín hiệu dừng phương tiện để kiểm tra, T đã không chấp hành dừng xe theo hiệu lệnh mà điều khiển xe môtô đi sang phần ngược chiều để trốn tránh việc kiểm tra. Thấy vậy, ông Q và ông T2 đi đến yêu cầu T thực hiện việc kiểm tra thì T bỏ lại xe môtô rồi rời đi. Lúc này, ông Q phối hợp cùng ông T2 tiếp tục cầm thiết bị đo nồng độ cồn yêu cầu T kiểm tra, T không chấp hành và dùng tay gạt thiết bị kiểm tra trên tay ông Q rơi xuống đất. Tổ công tác đã tập trung đưa T và xe mô tô BKS 29T1-206.37 về khu vực lập biên bản để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn. Sau nhiều lần giải thích và yêu cầu T chấp hành việc đo kiểm tra nồng độ cồn nhưng T vẫn không chấp hành và có lời nói, thái độ coi thường, chống đối tổ công tác. T tiếp tục dùng tay phải hất 02 lần làm thiết bị kiểm tra nồng độ cồn trên tay ông H rơi xuống đất, hư hỏng. Xác định T có hành vi cản trở, chống đối tổ

công tác thực hiện nhiệm vụ, tổ công tác đã khống chế và báo cáo sự việc với Công an huyện Đ đến phối hợp, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thanh T về hành vi “Chống người thi hành công vụ”, thu giữ vật chứng gồm: 01 máy đo nồng độ cồn qua khí thở nhãn hiệu “Alcosene”, mã số SN-858201, 02 phễu nhựa lắp đặt cho máy và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 29T1-206.37.

Tại phiếu xét nghiệm số 25019103 ngày 08/02/2025 cuả K bệnh viện T6 xác định: Định lượng cồn trong máu của Nguyễn Thanh T là 29,6mmol/L, vượt quá chỉ số bình thường. Âm tính với các chất ma túy.

Tại kết luận định giá tài sản số 956 ngày 03/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh T xác định: Giá trị thiệt hại đối với tài sản là máy đo nồng độ cồn qua khí thở nhãn hiệu “Alco Sense” mã số SN-858201 tại thời điểm tháng 02/2025 là 648.000₫.

Về trách nhiệm dân sự: Phòng C1 Công an tỉnh T không yêu cầu, đề nghị bị cáo T phải bồi thường đối với máy đo nồng độ cồn bị hư hỏng.

Vật chứng của vụ án: 01 máy đo nồng độ cồn qua khí thở nhãn hiệu “Alco Sense” mã số SN-858201, bị hư hỏng một phần kèm 02 phễu nhựa theo máy (hiện đã trả lại cho Đ1 Công an huyện Đ quản lý); 01 xe mô tô BKS 29T1-206.37, số máy 50MH07C00652, số khung H10471005145, xe đã qua sử dụng, cũ.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay Nguyễn Thanh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Bản Cáo trạng số 27/CT-VKSĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 330 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại Nguyễn Thanh T 01 xe mô tô BKS 29T1-206.37 xe cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ 11 phút ngày 08/02/2025, tại tuyến đường huyện Quốc lộ A thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ, Nguyễn Thanh T điều khiển xe môtô BKS:29T-206.37 di chuyển theo hướng xã K, huyện Đ đi phường C, thành phố T thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Đ (cũ) phát hiện dừng phương tiện, yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn, T đã không chấp hành mà có hành vi điều khiển xe mô tô đi sang phần đường bên trái, bỏ lại xe mô tô rồi rời đi, 02 lần dùng tay hất làm rơi hỏng máy đo nồng độ cồn và có nhiều lời nói coi thường, chống đối, cản trở Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 330 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“1) Người nào dùng vũ lực ... hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra theo điều luật viện dẫn trên.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội,nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ nhận thức, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đã không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn của tổ công tác, có hành vi cản trở và chống đối người thi hành công vụ, làm hư hỏng máy đo nồng độ cồn. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến dư luận, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung...

Bị cáo Nguyễn Thanh T chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Vì vậy trong lượng hình, HĐXX đã có xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người khác không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng: Trả lại Nguyễn Thanh T 01 xe mô tô BKS 29T1-206.37 xe cũ đã qua sử dụng.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ; việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo luật định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

[2]. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330 BLHS; Điều 38 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Thanh T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/02/2025.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[3]. Về xử lý vật chứng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại Nguyễn Thanh T 01 xe mô tô BKS 29T1-206.37, số máy 50MH07C00652, số khung H10471005145, nhãn hiệu “Honda”, màu sơn bạc, xe cũ đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).

[4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.

[5]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS; Trại tạm giam;
  • - UBND xã, phường nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 11 phút ngày 08/02/2025, tại tuyến đường huyện Quốc lộ A thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ, Nguyễn Thanh T điều khiển xe môtô BKS:29T-206.37 di chuyển theo hướng xã K, huyện Đ đi phường C, thành phố T thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Đ (cũ) phát hiện dừng phương tiện, yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn, T đã không chấp hành mà có hành vi điều khiển xe mô tô đi sang phần đường bên trái, bỏ lại xe mô tô rồi rời đi, 02 lần dùng tay hất làm rơi hỏng máy đo nồng độ cồn và có nhiều lời nói coi thường, chống đối, cản trở Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger