TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày 20 - 3 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải
Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa : Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Quỳnh Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 2 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh ngày 05/6/1992, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và con bà Lê Thị C1; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T và có 03 con. Con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/12/2024 đến ngày 11/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 11/12/2024. Có mặt
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1997;Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.(Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vũ Thị N1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã N,Thanh Hóa.Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Phan Văn V, sinh năm 1997. (Vắng mặt)
- + Chị Phạm Thị Trâm A, sinh năm 2004 (Vắng mặt)
- + Bà Lê Thị C1, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
Đều cư trú tại: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- + Anh Lê Tiến D, sinh năm 1995.( Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 21 phút ngày 04/12/2024, Nguyễn Văn C trú tại tổ dân phố Q, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa có rủ anh Phan Văn V ở tổ D, phường H, thị xã N đi hát K tại quán K thuộc thôn H, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng 03 giờ 00 phút sáng ngày 05/12/2024, khi thanh toán tiền hát vì không có tiền nên C bảo anh V ở lại quán để C về lấy tiền. Sau đó C điều khiển xe môtô nhãn hiệu Future, BKS 53Y3 – 8164 mượn của chị Phạm Thị Trâm A (em dâu của C) đi về nhà. Khi đi đến tổ dân phố T, phường B, thị xã N, C nhìn thấy cửa hàng điện thoại Ngọc N của anh Nguyễn Văn N ở tổ dân phố Q, phường H, thị xã N. C dừng xe trước cửa hàng, nhặt một bì xác rắn trên mặt đất rồi trùm lên đầu và buộc hai đầu bị lại với nhau rồi dùng hai tay đặt dưới đáy cửa cuốn của cửa hàng kéo mạnh mép cửa hướng ra ngoài làm gãy khoá cửa cuốn, khiến mép cả bị cong vênh hở một khoảng rộng 30cm so với mặt đất, C chui qua khe cửa đẩy cửa kính đột nhập vào bên trong cửa hàng rồi lấy 03 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc điện thoại di động Iphon XS Max màu vàng; 01 điện thoại di dộng Iphon XS Max màu đen; 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy J7Pro màu đen trong tủ trưng bày, và 04 chiếc điện thoại gồm 01 chiếc điện thoại Iphon 12Pro màu vàng; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A02 màu đen; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A32 màu đen; 01 chiếc điện thoại Sony G8142 màu đen trên bàn làm việc. Tất cả điện thoại trộm cắp C bỏ vào túi quần rồi chui qua khe cửa ra ngoài. Sau đó C ném chiếc bì xác rắn ở ngoài đường và điều khiển xe mô tô quay lại quán Kraoke Minh N2, tại quán C có nói với anh Lê Tiến D là nhân viên quản lý quán hát là để lại điện thoại làm tin sáng mai đem tiền đến trả, anh D đồng ý. C đưa cho anh D 01 chiếc điện thoại Iphon XS Max màu vàng; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy J7 Pro màu đen và 01 chiếc điện thoại Sony G8142 màu đen, anh D kiểm tra thấy chiếc điện thoại Sony bị lỗi màn hình nên không nhận, do 02 chiếc điện thoại chưa đủ tiền hát nên anh V để lại chiếc điện thoại Iphon 5 màu trắng của mình. C đưa chiếc điện thoại Sony bị lỗi cho anh V sử dụng rồi cả hai đi về.
Đến khoảng 07 giờ 40 phút ngày 05/12/2024, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 36U1 – 1515 của bà Lê Thị C1 (là mẹ đẻ của C) chở con đi học. Sau đó C điều khiển xe môtô đến cửa hàng Đ1 thuộc tổ dân phố N, phường N, thị xã N. C bán cho chị N1 chủ cửa hàng điện thoại 02 chiếc điện thoại gồm 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max màu đen và 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng với tổng số tiền là 4.300.000đ. Đối với chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A02 màu đen; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A32 màu đen C cất giấu trong tủ ti vi phòng khách nhà C.
Về phần bị hại anh Nguyễn Văn N, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2024, sau khi phát hiện cửa hàng của mình có dấu hiệu bị cạy phá và bị mất tài sản là 07 điện thoại di động nên đã đến Công an phường B, thị xã N trình báo. Sau khi tiếp nhận thông tin, Công an phường B đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N để giải quyết theo thẩm quyền.
Đến 11 giờ 15 phút ngày 05/12/2024, nhận thấy hành vi của mình bị phát hiện nên C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và tự nguyện giao nộp 3.000.000₫ là số tiền bán điện thoại do C trộm cắp mà có.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 103/KL-HĐĐGTS, ngày 06/12/2024, Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã N xác định:
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu đen có số Imeil 353317099426497, số Imei2 353318099426495 giá trị 1.500.000đồng;
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon Xs Max màu vàng có số Imeil 357263092156762, số Imei2 357263092345357 giá trị 5000.000đồng;
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Iphon XS Max màu đen có số Imeil 357305090868847, số Imei2 357305091989394giá trị 5.500.000đồng;
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen có số Imeil 351389226460881, số Imei2 351389226460883 giá trị 1.500.000đồng;
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen có số Imeil 356835253457872, số Imei2 358934993457876 giá trị 2.500.000đồng;
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony G8142 màu đen có số Imei1 357008080353347 giá trị 1.000.000đồng.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 12 Pro màu vàng đã qua sử dụng giá trị 8.500.000đồng;
Tổng giá trị tài sản C trộm cắp là: 25.500.000₫ (Hai lăm triệu đồng).
Trong quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản C còn làm hư hỏng 01 khoá cửa cuốn và làm cong vênh mép cửa cuốn. Theo kết quả định giá tài sản số 13/KL – HĐĐG của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự ủy ban nhân dân thị xã N kết luận: 01 khoá cửa cuốn, loại khoá cơ bị hư hỏng hoàn toàn có giá trị là 210.000₫ (hai trăm mười nghìn đồng); Mép cửa cuốn bị cạy phá làm cong vênh có chi phí sửa chữa là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng)
Theo kết luận giám định số 564/KL – KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Phát hiện 01 dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định trên tấm kính ghi số 1. Dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định so với dấu vân tay in ô “nhẫn phải” trên chỉ bản họ tên Nguyễn Văn C là của cùng một người.
Về vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, gồm:
- - Thu giữ của anh Phan Văn V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony G8142 màu đen
- - Thu giữ tại hiện trường 02 tấm cửa kính, 01 vỏ hộp điện thoại D52 màu hồng và 01 bì xác rắn màu trắng đã được cắt làm đôi.
- - Thu giữ của anh Lê Tiến D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon XS Max màu vàng và 01 điện thoại Iphon 5 màu trắng.
- - Thu giữ của chị Vũ Thị N1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Iphon XS Max màu đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 12 Pro màu vàng
- - Thu giữ tại nhà của Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen.
- - Nguyễn Văn C tự nguyện giao nộp 3.000.000 đồng là số tiền do C bán tài sản do trộm cắp mà có.
Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N 07 chiếc điện thoại cho chủ sử hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn N và 01 điện thoại Iphon5 cho anh Phan Văn V, đối với số tiền 3.000.000đồng do C tự nguyện giao nộp trả lại cho chị Vũ Thị N1.
Đối với 01 bì xác rắn màu trắng được cắt làm đôi đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Về bồi thường dân sự:
- - Chị Vũ Thị N1 đã nhận lại số tiền 3.000.000đ và yêu cầu C bồi thường số tiền 1.300.000₫ là số tiền chị N1 bỏ ra để mua điện thoại của C.
- - Anh Nguyễn Văn N yêu cầu C bồi thường số tiền là 510.000₫ là chi phí thay khoá và sửa cửa cuốn bị hư hỏng.
- - Anh Lê Tiến D yêu cầu C trả số tiền hát kraoke là 4.600.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSNS, ngày 24/2/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã truy tố Nguyễn Văn C về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; và Điều 65 Bộ luật hình sự, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội Trộm cắp tài sản.
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp. Đối với yêu cầu bồi thường khoá cửa và sửa chữa cửa cuốn bị hư hỏng trong giai đoạn xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh N, anh N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với yêu cầu bồi thường số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) của chị N1 là người mua điện thoại của C trong giai đoạn xét xử C đã tự nguyện bồi thường số tiền trên cho chị N1, chị N1 đã có đơn đề nghị về việc đã nhận đủ số tiền do C bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với yêu cầu của anh Lê Tiến D yêu cầu C trả lại số tiền hát 4.600.000₫ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) xét thấy đây không phải là yêu cầu liên quan đến vụ án nên đề nghị HĐXX dành cho anh D một vụ kiện dân sự yêu cầu C trả lại số tiền hát cho anh D là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 bì xác rắn màu trắng được cắt làm đôi.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã truy tố; bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã N, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Đối với việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên toà tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, trước khi mở phiên toà bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 292 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ 00 phút sáng ngày 05/12/2024, tại tổ dân phố T, phường B, thị xã N, Nguyễn Văn C đã trộm cắp 07 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc điện thoại di động Iphon XS Max màu vàng; 01 điện thoại di dộng Iphon XS Max màu đen; 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy J7 Pro màu đen, 01 chiếc điện thoại Iphon 12Pro màu vàng; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A02 màu đen; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A32 màu đen; 01 chiếc điện thoại Sony G8142 màu đen của cửa hàng điện thoại Ngọc Nguyễn S của anh Nguyễn Văn N ở tổ dân phố Q, phường H, thị xã N.Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn C đã chiếm đoạt của anh N 25.500.000₫ (Hai lăm triệu, năm trăm nghìn đồng)
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự xã hội được duy trì, tài sản của công dân được bảo vệ; để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội đã đến Cơ quan CSĐT đầu thú, bên cạnh đó bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, bị cáo đã bồi thường số tiền làm hư khoá cửa và hư hỏng cửa cuốn cho bị hại, và bồi thường cho chị N1 là người mua điện thoại của bị cáo, bị hại anh N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì khác nên HĐXX miễn xét.
Đối với yêu cầu của anh Lê Tiến D yêu cầu C trả lại số tiền hát 4.600.000đ, xét thấy đây không phải là yêu cầu liên quan đến vụ án, nên HĐXX dành cho anh D khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bị cáo C trả lại số tiền hát cho anh D là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Xử lý vật chứng: Đối với 01 bì xác rắn màu trắng được cắt làm đôi được bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội đây là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy;
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Nguyễn Văn C, phạm tội trộm cắp tài sản.
- Xử phạt : Nguyễn Văn C 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai tư) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/3/2025.
Giao bị cáo cho UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bì xác rắn, màu trắng được cắt làm đôi.
- (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số: 45 ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã N và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hãọc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Viết Chiến |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 03 giờ 00 phút sáng ngày 05/12/2024, tại tổ dân phố Thanh Đông, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, Nguyễn Văn Cường đã trộm cắp 07 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc điện thoại di động Iphon XS Max màu vàng; 01 điện thoại di dộng Ịphon XS Max màu đen; 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy J7 Pro màu đen, 01 chiếc điện thoại Iphon 12Pro màu vàng; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A02 màu đen; 01 chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A32 màu đen; 01 chiếc điện thoại Sony G8142 màu đen của cửa hàng điện thoại Ngọc Nguyễn Store của anh Nguyễn Văn Ngọc ở tổ dân phố Quang Minh, phường Hải Thanh, thị xã Nghi Sơn.Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn Cường đã chiếm đoạt của anh Ngọc 25.500.000đ (Hai lăm triệu, năm trăm nghìn đồng)
