Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 19/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền
- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Phi Long
Bà Đàm Thị Thanh Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà:

Ông Lê Khắc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Trại tạm giam Công an tỉnh Q, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST-HS ngày 25/02/2025 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Hoàng Tuấn D, tên gọi khác: không; sinh ngày 17/12/1983 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đức C và bà Trần Thị T; chưa có vợ, con; tiền án: không;

Tiền sự:

  • Ngày 31/01/2024, Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc
  • Ngày 31/01/2024, Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

  • Ngày 20/5/2003, UBND thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đồng về hành vi đánh nhau gây mất trật tự công cộng.
  • Ngày 10/01/2005, UBND xã Đ, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đồng về hành vi đốt pháo.
  • Ngày 31/8/2005, UBND thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 300.000 đồng về hành vi gây rối trật tự trong cơ quan, cản trở không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ.
  • Ngày 31/8/2005, UBND thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 700.000 đồng về hành vi xúi giục người khác đánh nhau, gây rối trật tự nơi công cộng, cản trở không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ.
  • Ngày 15/12/2005, UBND thị trấn B, huyện B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường T (thời hạn 06 tháng kể từ ngày 15/12/2005 đến ngày 15/6/2006).
  • Ngày 27/6/2006, UBND thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng.
  • Ngày 17/7/2007, UBND tỉnh Q ra Quyết định về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục (thời hạn 24 tháng tại cơ sở giáo dục S thuộc Cục Q, Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng của Bộ C1), ngày 29/4/2009 hoàn thành chương trình giáo dục về địa phương.
  • Ngày 21/11/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong phần nộp tiền án phí của bản án ngày 20/02/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/6/2012).

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 07/9/2024. Hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Mạc Duy L, tên gọi khác: không; sinh ngày 18/6/2000 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Duy T1 và bà Hoàng Thị L1; có vợ là Nguyễn Thu T2 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 07/9/2024. Hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Đỗ Minh H (tên gọi khác: Phong N), sinh ngày 15/9/1992; Nơi cư trú: Tổ C, phố L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q trong vụ án khác. Có mặt.
  • Ông Mạc Duy T1, sinh ngày 08/8/1978; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • Bà Trần Thị T, sinh ngày 02/02/1950; Nơi cư trú: khu E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
  • Anh Lê Văn H1, sinh 15/01/1990; Nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • Anh Vũ Văn Đ, sinh 07/10/1995; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 6/9/2024, Mạc Duy L gọi điện thoại bảo Hoàng Tuấn D đi tìm mua ma túy để cùng nhau sử dụng tại nhà D, D đồng ý. L chuyển khoản cho D 1.150.000 đồng để D trả tiền thuê xe taxi và mua ma túy, rồi L đi đến nhà D đợi. D gọi điện thoại cho Lê Văn H1 (sinh năm 1990, nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh) hỏi mua ma túy đá đồng thời chuyển khoản cho H1 800.000 đồng qua tài khoản ngân hàng. Long cung cấp số điện thoại của anh Vũ Văn Đ cho D để D liên lạc và thuê anh Đ lái xe ô tô chở đi ra thị trấn T để nhận ma túy. Trên đường đi, H1 gọi điện thoại cho D bảo không mua được ma túy và chuyển khoản lại trả D 800.000 đồng. D bảo anh Đ chở quay về nhà Đ và trả 300.000 đồng tiền xe cho anh Đ, đồng thời cũng chuyển khoản trả lại L 850.000 đồng.

Sau đó, L tiếp tục bảo D liên hệ tìm chỗ khác mua ma túy để sử dụng, D gọi điện thoại cho Đỗ Minh H (tên gọi khác: Phong N) hỏi mua 850.000 đồng ma túy đá, H đồng ý bán và yêu cầu trả tiền trước vào tài khoản của H. L chuyển khoản 850.000 đồng từ tài khoản số 8619062000 của L mở tại Ngân hàng TMCP Q1 đến tài khoản số 4481691568 của D mở tại Ngân hàng TMCP Đ1, để D tiếp tục chuyển khoản số tiền này đến tài khoản số 1509926666 của Học mở tại Ngân hàng TMCP K.

Đến khoảng 00 giờ 09 phút ngày 07/9/2024, H cho ma túy vào ống hút nhựa và cất giấu tại khu vực cầu G, xã C, thành phố C bằng cách dính ống hút nhựa lên thành cầu bên phải (hướng từ thành phố C đi huyện B) và gọi điện thoại hướng dẫn, gửi ảnh vị trí để D tự đến lấy ma túy. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 14R1-008.63 chở D đến địa điểm trên lấy ma túy. Lấy ma túy xong, D gọi điện thoại cho H thông báo đã nhận được ma túy, L chở D về nhà D. Đến khoảng 02 giờ ngày 7/9/2024 tại phòng ngủ của D, D đổ ma túy vào 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã chuẩn bị từ trước, dùng bật lửa đốt ma túy để tự sử dụng rồi đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho L và dùng bật lửa đốt ma túy để L sử dụng. L và D mỗi người sử dụng ma túy được khoảng 04 lần thì hết số ma túy mua của H, rồi cùng nằm ở giường nghỉ. Đến khoảng 03 giờ ngày 07/9/2024, Công an huyện B kiểm tra hành chính nhà của D, D cầm một bộ phận sử dụng ma túy ném ra ngoài cửa sổ, sau đó bị thu giữ cùng các vật chứng liên quan.

Kết quả giám định mẫu nước tiểu ghi thu của Mạc Duy L và Hoàng Tuấn D tìm thấy chất ma túy Methamphetamine (Kết luận giám định số 1464/KL-KTHS và 1465/KL-KTHS ngày 14/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).

Quá trình điều tra, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nêu trên.

Vật chứng và đồ vật, tài sản tạm giữ: Toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 chiếc bật lửa bằng kim loại, 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro gắn sim số 0335.173.839 tạm giữ của bị can L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A3 gắn 02 sim số 0382.257.568 và 0815.962.389 tạm giữ của bị can D, chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quy định của pháp luật. Xe mô tô biển số 14R1-008.63 cùng giấy đăng ký xe, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Mạc Duy T1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Bản cáo trạng số: 1623/CT-VKSQN-P1 ngày 14/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Hoàng Tuấn D và Mạc Duy L về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L có lời khai tương tự quá trình điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng quy kết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Minh H thừa nhận đã bán ma túy đá cho bị cáo Hoàng Tuấn D vào hồi 00 giờ 09 phút ngày 07/9/2024 với cách thức, số lượng, giá cả như thể hiện tại bản cáo trạng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mạc Duy T1 khai báo: là chủ sở hữu của xe mô tô biển số 14R1-008.63, xe cho con trai là bị cáo Mạc Duy L mượn sử dụng, ông không biết và không đồng ý cho Mạc Duy L sử dụng vào việc phạm tội, đã được cơ quan điều tra trả lại xe.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, viện dẫn các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, phân tích tính chất, mức độ hành vi, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Mạc Duy L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; thời hạn tù đối với hai bị cáo tính từ ngày 07/9/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều trình bày xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L giữ nguyên lời khai báo tại cơ quan điều tra, thừa nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh là đúng người, đúng tội. Lời khai báo của hai bị cáo phù hợp với nhau về cách thức liên lạc để mua ma túy đá, số lượng ma túy đã mua bán, thời gian, giá cả thỏa thuận, cách thức thanh toán, địa điểm giao nhận, diễn biến quá trình mua bán, sử dụng, thời gian, phương tiện di chuyển, phù hợp các kết luận giám định, vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 07/9/2024, tại phòng ngủ nhà của Hoàng Tuấn D ở khu E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Tuấn D và Mạc Duy L có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetanmine, bị Công an huyện B kiểm tra, phát hiện bắt giữ, thu vật chứng.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L với tội danh và điều luật như thể hiện tại bản cáo trạng số: 1623/CT-VKSQN-P1 ngày 27/11/2023 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng và chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Các bị cáo thực hiện việc sử dụng ma túy không chỉ hủy hại sức khỏe của bản thân, mà còn gây tác hại tiêu cực đối với nhiều mặt của đời sống xã hội và gây mất trật tự trị an. Do đó, cần phải xét xử nghiêm với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L không có tình tiết tăng nặng.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo trong vụ án đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Mạc Duy L có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo Hoàng Tuấn D có bố mẹ đẻ là những người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang, huy chương kháng chiến nên có căn cứ áp dụng cho cả hai bị cáo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: các bị cáo trong vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó, người khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy, chi tiền để mua ma túy là Mạc Duy L, bị cáo Hoàng Tuấn D khi nhận được thông tin muốn ma túy để sử dụng của bị cáo L là người tích cực tìm địa điểm mua ma túy, di chuyển đi mua ma túy để cùng sử dụng với L nên hai bị cáo có vai trò ngang nhau. Tuy nhiên bị cáo Hoàng Tuấn D có nhân thân rất xấu, 05 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, 01 lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn, 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, 01 lần bị Tòa án xét xử nhưng không tu dưỡng, rèn luyện nên cần có biện pháp giáo dục nghiêm khắc hơn để đảm báo tính răn đe, phòng ngừa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng là bộ dụng cụ sử dụng ma túy, mẫu vật hoàn lại sau giám định: tịch thu tiêu hủy; điên thoại thu giữ của các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua bán, tổ chức sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung công, sim kèm theo điện thoại tịch thu tiêu hủy, 01 chiếc bật lửa bằng kim loại tịch thu tiêu hủy.

[8] Các vấn đề khác

Đối với Đỗ Minh H là người bán ma túy cho D và L, cơ quan điều tra đã khởi tố điều tra, tách vụ án và đang tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý đối với H cùng các đối tượng khác trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Đối với Lê Văn H1 nhận lời mua hộ ma túy cho Hoàng Tuấn D nhưng sau đó không thực hiện nên chưa cấu thành tội phạm. Đối với Vũ Văn Đ là người lái xe ô tô chở D đến thị trấn T để lấy ma túy và ông Hoàng Đức C, bà Trần Thị T (là bố, mẹ của bị cáo D) là chủ nhà nơi D, L tổ chức sử dụng trái phép ma túy nhưng không biết việc sử dụng trái phép chất ma túy của D, L. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết các vấn đề nêu trên trong bản án này.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn D 02 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2024.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Mạc Duy L 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh Q số 1465/KL-KTHS (số A) và 01 phong bì niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh Q số 1465/KL-KTHS (số 02) cùng ngày 14/9/2024 chứa mẫu vật hoàn lại theo Kết luận giám định số 1465 ngày 14/9/2024 vụ Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L.
  • Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A3 vỏ màu đen thu giữ của bị cáo Hoàng Tuấn D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đồng thu giữ của bị cáo Mạc Duy L. Các sim kèm theo các điện thoại nêu trên tịch thu tiêu hủy.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa bằng kim loại màu trắng thu giữ của bị cáo Mạc Duy L.

(Toàn bộ vật chứng thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng số 63, ngày 17/02/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  • Buộc các bị cáo Hoàng Tuấn D, Mạc Duy L mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tối cao, VKSND tối cao;
  • - VKS, CQCSĐT, PV 06 Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - TTG; THA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các bị cáo; người có qlnvlq;
  • - Lưu.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Tuấn Dũng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger