Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 16-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Chiếm

Bà Nguyễn Thị Tĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Quốc D, sinh năm 1991 tại Long An. Nơi cư trú: Số D ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T và bà Nguyễn Thị Mộng T1; vợ Hồ Thị Trúc D1; có 02 con lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2024 đến nay (có mặt)

- Bị hại: Ông Trần Quốc C, sinh năm: 2001

Địa chỉ: Số C ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Quốc T2, sinh năm: 2005

    Địa chỉ: Số C ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).

  2. Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm:1998

    Địa chỉ: Ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).

  3. Ông Trương Minh L, sinh năm:1986

    Địa chỉ: Số H, L, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1956

    Địa chỉ: Số C ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

  2. Ông Võ Văn T4, sinh năm: 1984

    Địa chỉ: Số C ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 30/7/2024, Trần Quốc C đang đi soi cá tại ruộng nước cặp đường bê tông công cộng gần nhà số D ấp N, xã N, thành phố T, lúc này Trần Quốc D điều khiển xe mô tô từ nhà số D chạy trên đường bê tông công cộng hướng ra tỉnh lộ 833 để đi đám tang, khi đến gần ruộng nước thì D thấy có một người đang rọi đèn pin soi cá ở dưới ruộng nước, D dừng xe lại hỏi thì biết là C, D nói với C sao lại rọi đèn pin vào mặt D, C bước lên đường bê tông đứng đối diện với D cách khoảng một mét, D và C cự cãi qua lại với nhau, lúc này D tức giận lấy một con dao dài khoảng 30cm, lưỡi bằng kim loại, màu đen có hình hơi cong dài khoảng 19cm, cán dao tròn dài khoảng 11cm, để trong giỏ xách máng trên xe mô tô của D, cầm dao bằng tay phải chém nhiều nhát từ trên xuống, khoảng 3 cái về phía C, C dùng tay trái đỡ bị chém trúng vào cổ tay trái chảy máu, dùng tay phải ôm cổ tay trái bị chém trúng vào cổ tay phải chảy máu và bị chém trúng vào vành lỗ tai trái chảy máu. Lúc này có anh Võ Văn T4 và bà Trần Thị Đ nhà ở gần nơi xảy ra sự việc ra can ngăn, bà Đ dùng hai tay giật lấy dao trên tay D ra và mang dao để tại bụi chuối gần nhà bà Đ, C được mọi người đưa vào bệnh viện Đa khoa tỉnh L điều trị vết thương.

Sau khi chém C, D đến đứng trước sân nhà bà Đ tại số C ấp N, xã N, thành phố T, lúc này khoảng 22 giờ 15 phút, có 04 người chạy trên 03 xe mô tô đến gồm: Trương Minh L, Nguyễn Thanh T3, Trần Quốc T2, Nguyễn Hữu T5. L hỏi Duy lý D2 gì mà chém C, T2 dùng tay phải kẹp cổ từ phía sau quật Duy ngã ngửa xuống sân và dùng hai tay đánh nhiều cái vào đầu và mặt của D, T3 dùng tay đánh trúng vào mặt D làm D tiếp tục ngã xuống sân, sau đó cả 04 người bỏ đi. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Trần Quốc D đã khai nhận hành vi cố ý gây thương tích cho Trần Quốc C.

Bản kết luận giám định số 285/KLTTCT-TTPY ngày 04/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Quốc C tại thời điểm giám định là 27%.

Bản kết luận giám định số 286/KLTTCT-TTPY ngày 04/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Quốc D tại thời điểm giám định là 00%.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: 01 giỏ xách màu cam, hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân An tạm giữ.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSTA-HS ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa, bị hại Trần Quốc C khai: Khoảng 22 giờ ngày 30/7/2024 anh đến ruộng nước của ông 7 Ngộ để thăm lưới cá, gần nhà của bị cáo Trần Quốc D thuộc ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An, anh có mang đèn pin để soi cá, thì gặp bị cáo Trần Quốc D đang ngồi trên xe mô tô trên đường hẻm bê tông cách anh khoảng 5m, bị cáo D và anh có lời qua tiếng lại, sau đó anh từ ruộng bước lên đường bê tông cách bị cáo D khoảng 2m, đầu anh mang đèn pin dùng để soi cá, tay phải cầm cây chĩa, lúc này bị cáo D đứng dậy và lấy dao trên xe tiến về phía anh, tay phải cầm dao chém 04 nhát trúng vào người anh, trong đó 03 cái bị cáo chém xéo ngang từ trên xuống anh dùng tay đỡ nên bị chém trúng vào cổ tay trái và 01 nhát chém trung vào vành lỗ tai trái chảy máu, thì lúc này có bà Đ và anh T4 đến can ngăn, anh được gia đình đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh L điều trị vết thương. Anh bị thương tích với tỷ lệ là 27%. Sau khi gây thương tích bị cáo bồi thường tiền thuốc là 8.000.000 đồng. Nay anh yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường tiền thuốc điều trị 16.384.000 đồng tiền tổn thất tinh thần 05 tháng x 2.340.000đ/tháng = 11.700.000 đồng và tiền mất thu nhập 02 tháng x 12.000.000đ/tháng = 24.000.000 đồng. Tổng cộng 52.084.000 đồng, khấu trừ 8.000.000 đồng tiền thuốc bị cáo đã bồi thường.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Quốc D về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành phạm tội mà bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tiền thuốc điều trị, mất thu nhập và tổn thất tinh thần theo thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại tại phiên tòa.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một giỏ xách màu cam của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Nội dung: Lời khai của bị cáo Trần Quốc D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Do tức giận vì bị Trần Quốc C rọi đèn pin vào mặt nên vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 30/7/2024, tại đường bê tông công cộng gần nhà số D ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Trần Quốc D đã dùng một con dao bằng kim loại, sắc bén dài 30cm chém khoảng 03 cái trúng vào tay và vành tai của Trần Quốc C. Hậu quả gây ra thương tích cho anh C với tỷ là 27%. Thương tích có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có căn cứ xác định bị cáo dùng dao dài khoảng 30cm, lưỡi bằng kim loại chém gây thương tích cho bị hại nên thuộc trường hợp dùng “hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn trước, chỉ vì nguyên nhân bị hại rọi đèn pin vào mặt bị cáo nên hai bên xảy ra cự cải, bị cáo lấy cớ nhỏ nhặt này ngay lập tức dùng dao tấn công chém gây thương tích cho bị hại thuộc trường hợp có tính chất côn đồ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích đối với bị hại với tỷ lệ thương tổn cơ thể 27% và có tính chất côn đồ nên bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xem thường pháp luật, tín mạng, sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo gây ra.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo đã bồi thường một phần tiền chi phí điều trị nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của bị cáo đã gây ra cho bị hại, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có 02 con còn nhỏ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

Với tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra như đã nêu trên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm xảy ra trên địa bàn thành phố T hiện nay.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản tiền thuốc điều trị, viện phí; tiền mất thu nhập, tổn thất tinh thần với tổng số tiền 52.084.000 đồng.

Bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại theo yêu cầu của bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường của bị cáo đối với bị hại.

Khấu trừ 8.000.000 đồng tiền thuốc bị cáo đã bồi thường cho bị hại. Do đó, buộc bị cáo bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 44.084.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy một giỏ xách màu cam của bị hại do không còn giá trị sử dụng.

Đối với Trần Quốc T2 và Nguyễn Thanh T3 có hành vi dùng tay đánh trúng vào đầu và mặt của Trần Quốc D nhưng không gây ra thương tích nên không không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không truy cứu trách nhiệm hình sự mà xử lý hành chính là phù hợp.

Đối với con dao mà bị cáo D giao nộp cho Công an xác định không phải là con dao D dùng gây thương tích cho bị hại C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành trả lại cho bị cáo D và tiến hành truy tìm hung khí gây ra thương tích theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Trần Quốc D có nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Quốc C các khoản thiệt hại về sức khỏe số tiền là 44.084.000đ (bốn mươi bốn triệu, không trăm tám mươi bốn nghìn đồng).

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy một giỏ xách màu cam của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Công an thành phố tân A và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An ).

  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Trần Quốc D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.204.200đ (hai triệu, hai lẻ bốn nghìn, hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tĩnh – Trần Thị Chiếm Nguyễn Thị Diễm Hằng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Duy Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger