Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS - ST

Ngày 10 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dư Thanh Nguyễn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đức Tính

Ông Trịnh Hữu Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Anh - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Trân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lê Văn B, sinh ngày 01/01/2004; nơi sinh: Xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp X, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Kim T; Bị cáo có vợ và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoai (bị cáo có mặt).

- Người bị hại: Ông Trần Hoàng E, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có đơn đề nghị xét xử mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 10/9/2024, Lê Văn B phát hiện nhà của ông Nguyễn Quốc K và bà Nguyễn Trang N thuộc ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau, không có ai ở nhà nên vào nhà thực hiện hành vi lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner biển kiểm soát 68M1-340.40 của ông Trần Hoàng E đậu gửi tại nhà của ông K, bà N.

Theo Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện U kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner BKS 68M1-340.40 màu xanh trắng mua năm 2018, xe đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 10/9/2024 có giá là 11.850.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner, màu sơn xanh trắng, mang biển kiểm soát 68M1-340.40 (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra Cơ quan điều tra – Công an huyện U đã trả lại cho bị hại Trần Hoàng E.

Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Bằng thừa N1 toàn bộ hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, không oan sai cho bị cáo và thống nhất với luận tội của Viện kiểm sát.

Người bị hại Trần Hoàng E đã nhận lại chiếc xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự bị hại Trần Hoàng E có đơn xin cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 09 tháng đến 1 năm 3 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Về tang vật của vụ án: không xem xét. Về trách nhiện dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn B khai nhận: Do có theo dõi từ trước nên Lê Văn B biết nhà của ông Nguyễn Quốc K, bà Nguyễn Trang N tại ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau có xe mô tô nhãn hiệu Winner của ông Trần Hoàng E gửi đậu để đi biển nên nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/9/2024, B thấy nhà ông K khóa cửa ngoài nên biết không có người ở nhà, B đến cửa sau nhà ông K lén lúc lấy chìa khoá nhà của ông K mở cửa sau vào nhà, B đi đến khu vực phòng khách phát hiện có xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển kiểm soát 68M1-340.40 rồi dẫn xe ra đường cửa sau và tiếp tục dẫn xe đến nhà ông Mai Hoàng V (nhà không có người ở) cách nhà ông K khoảng 30 mét để cất giấu. Đến ngày 11/9/2024 Huỳnh Thị H là vợ của B phát hiện có xe cất giấu ở nhà ông Mai Hoàng V, H hỏi thì Bằng thừa N1 về hành vi trộm cắp của mình và cùng H đến thừa nhận hành vi trộm xe cho vợ chồng ông K biết. Sau đó, vợ chồng ông K trình báo cho Công an xã K đến thu giữ.

[3] Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan sai và thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép buộc hay bị một tác động nào khác. Căn cứ kết quả khai báo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng của vụ án. Tổng giá trị tài sản bị cáo lấy trộm là 11.850.000 đồng. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội bị cáo Lê Văn B phạm tội trộm cắp tài sản nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

[4] Bị cáo thực hiện hành vi lén lút lấy trộm xe của ông Trần Hoàng E, mục đích là để bán tiêu xài cho cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo cần có một mức án tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm i, s khoản 1 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; khi phát hiện chiếc xe bị mất cất giấu nhà ông V, vợ bị cáo là chị H phát hiện chiếc xe và hỏi bị cáo có lấy trộm chiếc xe không, bị cáo thừa nhận bị cáo lấy trộm chiếc xe, bị cáo cùng chị H đến nhà ông K thừa nhận xe là do bị cáo trộm xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt ngoài phạm tội lần này bị cáo không có tiền án tiền tiền sự.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, không thể giao bị cáo về chính quyền giám sát giáo dục. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian học tập lao động để trở thành công dân có ít cho xã hội. Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù là có căn cứ và thỏa đáng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng phải chịu hình phạt tù giam, xem xét cho bị cáo mức phạt tù ở mức thấp nhất của khung hình phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Trần Hoàng E đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét.

[7] Về vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner, màu sơn xanh trắng, mang biển kiểm soát 68M1-340.40 (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra Cơ quan điều tra – Công an huyện U đã trả lại cho bị hại Trần Hoàng E là có căn cứ.

[8] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Văn B phải chịu 200.000 đồng. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Đối với nhà của ông Mai Hoàng V quá trình điều tra xác định đây là nhà ông V thuê từ tháng 11/2023, đến tháng 8/2024 thì gia đình ông V đã đi đâu địa phương không xác định được. Thời điểm B trộm xe và cất giấu xe tại nhà ông V, không có người sinh sống.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

- Bị cáo Lê Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Trần Hoàng E có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KT, TT & THA TAND tỉnh Cà Mau (1b);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau (1b);
  • - VKSND huyện U Minh (1b);
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an, tỉnh Cà Mau (1b);
  • - Phân trại tạm gian khu vực huyện U Minh (1b)
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh(1b);
  • - Bị cáo, người bị hại, (mỗi người 1b);
  • - Lưu hồ sơ, văn thư (1b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dư Thanh Nguyễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS - ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 30/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án trộm cắp tài sản do Lê Văn Bằng thực hiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger