TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày 09-6-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Cường
Ông Phạm Văn Đảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Ngô Thị M, sinh năm 1976, tại Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện nay: thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Phước C (đã chết) và bà Mai Thị S; bị cáo có chồng tên Trương Công L (đã ly hôn) và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án: 03 tiền án.
- - Ngày 09/5/2012, bị Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 48/2012/HSST ngày 09/5/2012.
- - Ngày 11/02/2014, bị Toà án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 08/2014/HSST ngày 11/02/2014.
- - Ngày 27/8/2019, bị Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 66/219/HSST ngày 27/8/2019.
Tiền sự: không
Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2025 cho đến nay, “có mặt”
Bị hại:
- - Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm 1997; nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Ngô Thị M, sinh năm 1976; hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước, tạm trú tại thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Thời gian từ ngày 12/9/2024 đến ngày 10/01/2025, Ngô Thị M đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã P, huyện B và xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 12/9/2024; Ngô Thị M điều khiển xe môtô, hiệu MAJESTY, biển số 61L4-0217 đi từ nhà ở ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước đến khu vực cổng trường Tiểu học và Trung học cơ sở P (thuộc ấp T, xã P, huyện B) để đón con đi học về. Đến nơi, M đi vào quán bán nước ở đối diện cổng trường (quán này của Bùi Thị Thu H làm chủ) để ngồi chờ. Lúc này M thấy H đang ngồi ở võng cạo hạt điều thì ngồi xuống nói chuyện. Khoảng 30 phút sau, M nói H bán cho M 01 ly nước cam nên H đi ra quầy pha chế trước quán để pha nước. Khi H đi pha nước thì M quan sát nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, màu đen của H để ở dưới nền nhà gần chỗ M ngồi nên M nảy sinh ý định lấy trộm đem bán lấy tiền. M lợi dụng lúc H sơ hở trong quản lý tài sản nên lấy trộm chiếc điện thoại này cất giấu vào túi áo khoác của mình, sau đó M đứng lên trả tiền nước cho H rồi đi ra khỏi quán đón con rồi đi về nhà, tai đây M cất giấu chiếc điện thoại ở dưới giường ngủ tại nhà M.
Đối với Bùi Thị Thu H, sau khi phát hiện bị mất trộm chiếc điện thoại, đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành xác minh, thu giữ được chiếc điện thoại OPPO A58 do M đã trộm cắp được của H và 01 xe mô tô, nhãn hiệu MAJESTY, biển số 61L4-0217, số khung: VTTPCG022TT 040835, số máy: VTT1P50FMG 040835 để phục vụ công tác điều tra.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 1121/2024/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A58, màu đen tại thời điểm ngày 12/9/2024 có trị giá là: 3.192.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 10/01/2025; Ngô Thị M điều khiển xe mô tô biển số 16H6- 6611 đi đến quầy bán trái cây của Nguyễn Thị D ở thôn D, xã Đ, huyện B để mua trái cây. Trong lúc D cân trái cây cho M xong, thì M nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20 màu xanh nhạt của D để trên mặt thùng xốp trong quầy bán trái cây không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại này đem bán lấy tiền. Lợi dụng lúc D sơ hở, không để ý nên M cầm chiếc điện thoại trên giấu vào trong túi trái cây mới mua, M trả tiền trái cây cho D rồi xách bịch trái cây bên trong có chiếc điện thoại lấy trộm của D rồi đi về. Khoảng 10 giờ sáng, ngày 11/01/2024, M đem chiếc điện thoại lấy trộm được của D đến tiệm điện thoại của ông Trần Thiên T, sinh năm 1983 ở thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước bán được 500.000 đồng.
Sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại, D đến Cơ quan Công an trình báo. Nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tổ chức xác minh và đã thu giữ được chiếc điện thoại của D và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 16H6-6611 để phục vụ công tác điều tra.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20 màu xanh mà M đã chiếm đoạt của D tại thời điểm ngày 10/01/2025 có trị giá là: 2.050.000 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 22/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Ngô Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với xe mô tô, hiệu MAJESTY, biển số 61L4-0217 và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 16H6-6611 của Ngô Thị M do sử dụng vào việc phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thị M đã khai nhận bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A58, màu đen là tài sản hợp pháp của bị hại Bùi Thị Thu H và trộm cắp điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y20 là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị D theo đúng nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố. Nay bị cáo đã nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức án thấp để bị cáo có cơ hội sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập; Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản xác định hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; người làm chứng phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do mục đích tư lợi cá nhân nên vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 12/9/2024, bị cáo Ngô Thị M đã lợi dụng sơ hở, lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại OPPO A58 trị giá 3.192.000 đồng tại quán nước của Bùi Thị Thu H tại ấp T, xã P, huyện B sau đó đem về nhà cất dấu chờ tiêu thụ; đến khoảng 19 giờ ngày 10/01/2025, bị cáo Ngô Thị M lại tiếp tục dùng thủ đoạn lợi dụng sơ hở lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20 màu xanh trị giá 2.050.000 đồng của Nguyễn Thị D tại thôn D, xã Đ, huyện B sau đó đem đến tiệm điện thoại di động của ông Trần Thiên T bán được 500.000 đồng tiêu xài. Tổng giá trị tài sản do M lấy trộm là 5.242.000 đồng.
Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo so với những quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự, do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” nên phải chịu trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do mong muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện việc phạm tội. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo cần xem xét quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có công việc, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Bùi Thị Thu H và Nguyễn Thị D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
Đối với ông Trần Thiên T đã được bị cáo M trả lại số tiền mua điện thoại của M là 500.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A58, màu đen là tài sản hợp pháp của bị hại Bùi Thị Thu H, Cơ quan CSĐT công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại điện thoại trên cho bà H; đối với điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y20 là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị D, Cơ quan CSĐT công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại điện thoại trên cho bà D là đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không xử lý lại.
- + Đối với chiếc xe mô tô, hiệu MAJESTY, biển số 61L4-0217, số khung: VTTPCG022TT 040835, số máy: VTT1P50FMG 040835 do Ngô Thị M sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản. Chiếc xe trên M mua lại của Đào Ngọc T1, sinh năm 1992, cư trú tại ấp P, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước về sử dụng chung cho gia đình, xe mô tô không có giấy đăng ký và khi mua không làm giấy tờ mua bán. Cơ quan CSĐT công an huyện B đã tra cứu thông tin nhưng không xác định được chủ sở hữu, do bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 16H6-6611, xe có nguồn gốc do Ngô Thị M mua lại của ông Điểu K, sinh năm 1992, cư trú tại ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước vào tháng 12/2024, khi mua không làm giấy tờ mua bán. Điểu Khanh mua lại chiếc xe này từ ông Vũ Đức T2, sinh năm 1967, đăng ký thường trú tại địa chỉ số F, P, quận L, thành phố Hải Phòng, (chỗ ở ấp B xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước) vào năm 2021 nhưng cũng không làm giấy tờ mua bán. Ông T2 xác định bán xe cho anh K, do bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Ngô Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Xử phạt bị cáo Ngô Thị M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 13/01/2025.
Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Thị M để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 16H6-6611 và xe mô tô hiệu MAJESTY, biển số 61L4-0217.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0008951 ngày 05/5/2025 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0008953 ngày 05/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập)
- Về án phí:
Bị cáo Ngô Thị M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ly |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
