Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30 /2025/HS-ST

Ngày: 08 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thanh Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Liêm.
  2. Bà Ngô Thúy Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở án của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên Lữ Văn N; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/11/202; Nơi sinh: thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: 5, đường H, khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Vô danh; Mẹ: Lữ Thị Xuân H, sinh năm 1963; A, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự, Quyết định số 23/2023/QĐ-XLHC ngày 19/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 13 tháng đối với Lữ Văn N về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Chấp hành xong ngày 06/5/2024 và quản lý sau cai tại địa phương theo Quyết định số 14/QĐ-UBND, ngày 23/5/2024 của Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

- Nhân thân của bị cáo: Quyết định số 117/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000 đồng đối với Lữ Văn N về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ mà không có giấy phép” (Hiện chưa đóng phạt).

- Tạm giữ: từ ngày 30/10/2024 đến ngày 02/11/2024; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Bà Lữ Thị H1, sinh năm 1960. (có mặt)

Nơi cư trú: Số E đường H, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Trường D, sinh năm: 1995. (có mặt)
  2. Nơi cư trú: Số C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Anh Huỳnh Gia B, sinh năm: 2000. (có mặt)
  4. Nơi cư trú: Số C, đường N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Ông Trần Văn S, sinh năm: 1977. (vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: Số A, đường L, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ, ngày 30/10/2024 bà Lữ Thị H1, sinh năm 1960, nơi thường trú: số E, đường H, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp đi chợ, nhà không có người trông giữ nên Lữ Văn N (là cháu ruột bà H1), nhà liền kề nhà bà H1, lén lút đột nhập vào nhà bà H1 tìm tài sản để lấy trộm. N vào phòng ngủ của bà H1 phát hiện ngăn cửa tủ phía dưới bên phải có một cái bóp da màu nâu (loại bóp nữ), bên trong có tiền Việt Nam 50.000.000 đồng và 02 chiếc nhẫn vàng trơn, loại vàng 24K, trọng lượng 04 chỉ nên N lấy tiền và vàng rồi mang về nhà cất giấu.

Đến khoảng 12 giờ, cùng ngày N điều khiển xe mô tô biển số 66S1-426.09 (xe của Nguyễn Trường D bạn của N gửi) chạy đến tiệm V", số A, đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp bán cho ông Trần Văn S với giá 34.160.000 đồng (vàng đã nấu chảy chế tác thành sản phẩm khác bán cho khách hàng, không thu hồi được). Sau đó, N đến nhà D gửi số tiền 50.000.000 đồng (nói là tiền hốt hụi). N sử dụng số tiền bán vàng mua 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 ProMax giá 19.500.000 đồng của anh Huỳnh Gia B tại cửa hàng "Q", ở thành phố S; sửa xe mô tô biển số 66S1-426.09 số tiền 3.570.000 đồng; tiêu xài cá nhân 900.000 đồng, còn lại 10.190.000₫ N để trong bóp da màu đen. Đến 16 giờ cùng ngày N đến Công an P, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp đầu thú.

Tại Công văn số: 1959/TCKH ngày 04/11/2024 của Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố S, tỉnh Đồng Tháp cung cấp: Giá vàng 24K vào ngày 30/10/2024, giá mua vào: 8.610.000 đồng/chỉ; giá bán ra: 8.830.000 đồng/chỉ.

Xác định giá 04 chỉ vàng x 8.830.000 đồng là 35.320.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản mà N chiếm đoạt của bà H1 là: 85.320.000 đồng.

Quá trình điều tra đã thu giữ và xử lý đồ vật, tài liệu như sau:

01 bóp da màu nâu và số tiền 83.260.000 đồng thu hồi trao trả lại cho chủ sở hữu là bà H1 (gồm: thu giữ số tiền 50.000.000 đồng Ngân gửi D; thu giữ số tiền N bán vàng còn lại 10.190.000 đồng; thu hồi của Huỳnh Gia B số tiền 19.500.000 đồng; Nguyễn Trường D nộp lại số tiền 3.570.000 đồng mà N sửa xe của D). 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax trả lại cho chủ sở hữu là anh Huỳnh Gia B.01 xe mô tô biển số 66S1-426.09 trả lại cho chủ sở hữu là bà Đặng Thị Diễm H2 (vợ của Nguyễn Trường D); 01 bóp da màu đen trả lại cho bị cáo N.

Quá trình điều tra, về phần dân sự: Bà Lữ Thị H1 yêu cầu bị cáo Lữ Văn N phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.060.000 đồng còn lại; Anh Nguyễn Trường D yêu cầu bị cáo N có trách nhiệm bồi thường số tiền 3.570.000 đồng mà anh D đã tự nguyện giao nộp thay bị cáo N để bồi thường thiệt hại cho bà H1; Anh Huỳnh Gia B yêu cầu bị cáo N có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.500.000 đồng là giá trị chênh lệch trong việc mua bán điện thoại di động Iphone 14 Promax giữa anh B và bị cáo N. Bị cáo N đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà H1, anh D, anh B.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSTPSĐ ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đã truy tố Lữ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bà Lữ Thị H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 2.060.000 đồng còn lại bị mất; anh Huỳnh Gia B không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000 đồng tiền bán điện thoại chưa thu hồi được; anh Nguyễn Trường D xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.570.000 đồng đã nộp thay cho bị cáo khắc phục hậu quả (số tiền này bị cáo lấy sửa xe mô tô biển số 66S1-426.09)

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội: giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lữ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn N mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

  • - Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.
  • - Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong.

Bị cáo N thống nhất với Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tại phiên tòa, không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố, điều tra và truy tố.

[2] Về hành vi của bị cáo: Vào khoảng 09 giờ, ngày 30/10/2024 Lữ Văn N lợi dụng bà H1 đi chợ, đã lẻn vào nhà, lấy tiền Việt Nam 50.000.000 đồng và 02 chiếc nhẫn vàng trơn, loại vàng 24K, trọng lượng 04 chỉ; tổng trị giá 85.320.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) ...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) ...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...”.

Do đó, Cáo trạng truy tố đối với bị cáo N là đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, nguy hiểm cho xã hội; giá trị tài sản lấy trộm trên 50 triệu đồng, hành vi của bị cáo liều lĩnh, lén lút lấy trộm tài sản ban ngày.

Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính 2 lần về các hành vi vi phạm pháp luật, nhưng ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo vẫn chưa tốt, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; tài sản đã thu hồi phần lớn và hoàn trả lại bị hại xong; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về vật chứng: đã xử lý xong, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại là bà H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 2.060.000 đồng còn lại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Huỳnh Gia B không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000 đồng; anh Nguyễn Trường D xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.570.000 đồng. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về các hành vi có liên quan đến bị cáo của Nguyễn Trường D, Trần Văn S và Huỳnh Gia B; Hội đồng xét xử thống nhất Cáo trạng, chưa đủ yếu tố để xử lý hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Lữ Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo chấp hành án; được trừ thời gian tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến ngày 02/11/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  4. Buộc bị cáo Lữ Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Sa Đéc;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh ĐT;
  • - Thi hành án dân sự TP. Sa Đéc;
  • - Sở tư pháp;
  • - Văn phòng Tòa án;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thanh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lu Van Ngan phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger