|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày: 07/11/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Lưu Xuân Tiến
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Minh Toàn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Bích – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/HSST- QĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1977; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn P, xã C, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Phạm Hồng T (đã chết) và bà Trần Thị R, sinh năm 1955; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ hai; Họ và tên vợ: Lưu Thị Minh P, sinh năm1982; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh) xử 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/3/2010 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh N.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 22/7/2025, bị cáo đi bộ từ nhà ra khu vực chân cầu L thuộc thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Bị cáo gặp 01 nam thanh niên khoảng 30–35 tuổi (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) và mua của người này 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi nhận gói ma túy, bị cáo cất vào túi quần phía trước bên phải mình đang mặc rồi đi bộ đến khu vực nhà tạm ở bãi rác thuộc thôn V, xã C để sử dụng thì bị bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải bị cáo đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Bị cáo khai nhận đây là H1 vừa mua với mục đích sử dụng cho bản thân, Công an xã C đã niêm phong ký hiệu M, mời người chứng kiến và đưa bị cáo về trụ sở UBND xã C biên bản phạm tội quả tang. Ngoài ra, bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 20/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đi bộ từ nhà đến khu vực cống H thuộc thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói Heroine giá 200.000 đồng, sau đó ra khu vực miếu trên đê cạnh sông N thuộc thôn C, xã C sử dụng hết.
Tại bản Kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 25/7/2025 của phòng K - Công an tỉnh N xác định: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục trong 01 (một) gói giấy màu trắng được niêm phong, ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Khối lượng mẫu là 0,169 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu mẫu nước tiểu của H, ký hiệu N1 để giám định. Tại bản Kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 25/7/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N xác định: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, C và 6-MAM trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định.
Đối với 01 túi niêm phong (bên trong đựng 0,137 gam mẫu M là ma túy, cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu M hoàn lại sau giám định) và 01 chai nhựa niêm phong (bên trong chai nhựa chứa lượng nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 còn lại sau giám định) của Phòng K - Công an tỉnh N chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - tỉnh Ninh Bình.
Bản Cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án nêu trên. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Phạm Văn H từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy và 01 chai nhựa niêm phong (bên trong chai nhựa chứa lượng nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 còn lại sau giám định) của Phòng K Công an tỉnh N.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/7/2025; Biên bản khám xét ngày 22/7/2025; Bản kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 25/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh N; Biên bản ghi lời khai người chứng kiến anh Nguyễn Quyết C1, anh Trần Văn H2,... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 22/7/2025, tại khu vực nhà tạm ở bãi rác thuộc thôn V, xã C, tỉnh Ninh Bình, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,169 gam Heroine trong túi quần phía trước bên phải bị cáo đang mặc, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã C phát hiện bắt người phạm tội quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy là vật mà Nhà nước cấm lưu hành và 01 chai nhựa niêm phong (bên trong chai nhựa chứa lượng nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 còn lại sau giám định) không có giá trị, nên tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” ngày 20/7/2025 tại khu vực miếu trên đê cạnh sông N, thuộc thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình của bị cáo không thuộc các điểm a, b, c, d khoản 1, Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Công an xã C, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP là phù hợp.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 1, Điều 4 Luật số 86/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Phạm Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong phong bì thư số 135/KL-KTHS và 01 chai nhựa niêm phong số 136/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N (bên trong chai nhựa chứa lượng nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 còn lại sau giám định) (có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thọ |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 07/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
