Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày 05 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị T.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/3/2025, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh H mở phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2025/TLST -HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Duy K, sinh năm 1989; HKTT: Thôn A, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Duy K1 ( đã chết) và bà Nguyễn Thị K2, sinh năm: 1968; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ là: Cà Thị L, sinh năm 1989. Bị cáo có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2025 đến ngày 15/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Đình L1, sinh năm 1987. HKTT: Thôn Hợp Tiến, xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở: Số 287 Trường Trinh, phường Quang Trung, TP Nam Định, tỉnh Nam Định.
  2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. Trú tại: Thôn Đầu, xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
  3. Anh Đồng Xuân H, sinh năm 1983. HKTT: Tập thể hóa chất, sở Dầu, quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng. Chỗ ở: Số 368 đường 21 tháng 8, phường Phước Mỹ, TP Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận.
  4. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967. HKTT: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 10/01/2025, tại đường T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an huyện Y kiểm tra phát hiện bắt quả tang Bùi Duy K, sinh năm 1989 trú tại thôn A, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép hàng cấm để sử dụng đó là trên xe mô tô đeo biển số 16N5-5728 có một thùng giấy (bìa catton) hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (47x28x31)cm bên trong có 05 năm vật hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x14)cm vỏ ngoài có nhiều màu, có chữ nước ngoài để trong 03 túi giấy bóng màu đen, niêm phong ký hiệu P1. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần bên phải K đang mặc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9, vỏ màu xanh, bên trong có lắp 01 sim có số thuê bao 0982.713.526 niêm phong ký hiệu Đ1; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đen - bạc biển số 16N5-5728 và một thùng giấy (bìa catton) hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (47x28x31)cm bên trong có 05 năm vật hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x14)cm vỏ ngoài có nhiều màu, có chữ nước ngoài để trong 03 túi giấy bóng màu đen, niêm phong ký hiệu P1.

Ngày 10/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Duy K. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 10/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y lập biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 vỏ màu xanh bên trong có nắp 01 sim có số thuê bao 0982.713.526 thu giữ của Bùi Duy K thể hiện nội dung trao đổi mua bán pháo nổ giữa K với số điện thoại 0965.450.xxx và tài khoản zalo tên “Phạm T2”.

Kết quả điều tra, Bùi Duy K khai: Do muốn mua pháo hoa nổ để sử dụng, qua tìm hiểu thì biết có người tên T2 ở thôn H, xã T, huyện Y bán pháo hoa nổ. Ngày 09/01/2025, K sử dụng số điện thoại 0982.713.xxx của mình gọi đến số điện thoại 0965.450.xxx của người tên T2 hỏi mua pháo hoa nổ loại giàn 36 quả thì được người này đồng ý và nói giá 900.000 đồng/giàn, K đặt mua 05 giàn. Sau đó người tên T2 chủ động sử dụng zalo tên “Phạm T2” kết bạn zalo với K, rồi chụp hình ảnh pháo nổ cho K xem. Đến khoảng 10 giờ ngày 10/01/2025, người tên T2 gọi điện cho K hẹn đến đường T thôn H, xã T, huyện Y để giao pháo. Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển số 16N5-5728 đến điểm hẹn thì gặp một người đàn ông cao khoảng 1,7m, ngoài 30 tuổi, quần áo dài màu đen, áo khoác đội mũ màu đen, bịt khẩu trang đang đi xe cup không có biển số nói với K tên là T2 và dẫn K đi đến gần bãi rác thôn H thì dừng xe lại. Tại đây, T2 chỉ vào thùng giấy bìa catton hình hộp chữ nhật màu vàng bên trong có pháo thì K đi đến vạch thùng ra kiểm tra thì thấy trong thùng có 05 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả nên K đưa cho T2 số tiền 4.500.000 đồng, rồi người tên T2 điều khiển xe đi, còn K bê thùng catton bên trong có pháo lên phía trước yên xe mô tô biển số 16N5-5728 đi về đến đầu đường thì bị Công an huyện Y kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Tại kết luận giám định số 19/KL-KTHS ngày 14/01/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu vật gồm các vật hình hộp chữ nhật trong niêm phong ghi ký hiệu P1 có tổng khối lượng là 7,40kg (Bẩy phẩy bốn không kilôgam) đều có thuốc pháo, là pháo, loại pháo nổ (Pháo hoa nổ).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành xác minh đối với số điện thoại 0965.450.xxx và tài khoản zalo tên “Phạm T2” nhưng không xác định được thông tin chủ tài khoản Zalo trên; xác định chủ thuê bao 0965.450.291 là anh Nguyễn Đình L1, sinh năm 1987 ở thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Anh L1 xác định không đăng ký sử dụng số điện thoại này và không sử dụng số điện thoại này để đăng ký Zalo. Cơ quan điều tra cho bị cáo K nhận diện qua hình ảnh của anh L1 thì bị cáo xác định anh L1 không phải là người tên T2 đã bán pháo cho bị cáo ngày 10/01/2025. Do vậy, quá trình điều tra không làm rõ được người bán pháo hoa nổ cho Bùi Duy K nên không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng và các đồ vật phương tiện có trong vụ án:

- Đối với chiếc xe mô tô có đeo biển số 16N5-5728, có số khung RLHHC1206BY602676, số máy HC12E3401714. Bùi Duy K khai chiếc xe này K được một người bạn không nhớ tên tuổi, địa chỉ cho để chở hàng năm 2020 khi K đi làm ở cửa khẩu C, tỉnh Lạng Sơn, xe có giấy tờ nhưng K đã làm mất. Kết quả tra cứu, số khung RLHHC1206BY602676, số máy HC12E3401714 xác định là của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đen-bạc biển số 89K1-087.49, đăng ký mang tên anh Nguyễn Văn T sinh năm 1982 ở thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Anh T xác định chiếc xe trên anh mua từ năm 2013, đến năm 2015 anh bán đã bán cho người khác hiện không còn giấy tờ gì liên quan đến chiếc xe này, anh không có yêu cầu đề nghị gì; xe không có trong dữ liệu xe vật chứng. Tra cứu biển số 16N5-5728 xác định là của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu trắng xanh đăng ký mang tên anh Đồng Xuân H sinh năm 1983 ở tập thể Hóa Chất, Sở Dầu, Hồ N, thành phố Hải Phòng, anh H trình bày chiếc xe nêu trên anh mua và bán cho người khác đã lâu, nay anh không có giấy tờ gì liên quan đến chiếc xe này, anh không có đề nghị gì; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 vỏ màu xanh bên trong có nắp 01 sim có số thuê bao 0982.713.526 là tài sản của Bùi Duy K. Hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện Y để chờ xử lý.

- Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định trong hộp bìa catton niêm phong ghi số 19/KL-KTHS, bên trong niêm phong có 7,20kg pháo nổ (pháo hoa nổ), 03 (ba) vỏ túi nilon màu đen hoàn lại sau giám định. Hiện đang được quản lý tại Ban chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên để chờ xử lý.

Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Duy K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 38/QĐ-VKS-YM ngày 27/02/2025 của VKSND huyện Yên Mỹ đã truy tố bị cáo Bùi Duy K về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Duy K và đề nghị Thẩm phán áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 92 Luật THAHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Duy K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;

+ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Duy K từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Duy K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung bản luận tội và không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Thẩm phán xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra họ đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định của Phòng K3 Công an tỉnh H và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 10/01/2025, tại đường T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bị cáo Bùi Duy K đã có hành vi tàng trữ 7,40kg (Bẩy phẩy bốn không kilôgam) pháo nổ (pháo hoa nổ) thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo K đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Bùi Duy K là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý kinh tế, pháo nổ là một trong các loại hàng hóa Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, vận chuyển. Do đó, cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

* Về hình phạt:

Khi quyết định hình phạt, nhận thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và xin được cải tạo tại địa phương nên sẽ áp dụng cho bị cáo khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo và phải chịu một thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời vẫn đảm bảo được mục đích tác dụng của hình phạt.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 7,20kg (Bảy phẩy hai không kilogam) pháo nổ (pháo hoa nổ) được niêm phong trong hộp bằng bìa catton ghi số 19/KL-KTHS, 03 (ba) vỏ túi nilon màu đen hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành và phương tiện phạm tội nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen có đeo biển số 16N5-5728, có số khung RLHHC1206BY602676, số máy HC12E3401714 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 vỏ màu xanh bên trong có nắp 01 sim có số thuê bao 0982.713.526 là tài sản của bị cáo K, quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với biển số 16N5-5728 không phải là biển số của chiếc xe mô tô có số khung RLHHC1206BY602676, số máy HC12E3401714 nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

[7]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 92 Luật THAHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Duy K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Bùi Duy K 09 (Chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Bùi Duy K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Duy K.

  4. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy 7,20kg (Bảy phẩy hai không kilogam) pháo nổ (pháo hoa nổ); 03 (ba) vỏ túi nilon màu đen được niêm phong trong hộp bằng bìa catton ghi số 19/KL-KTHS;
    • Tịch thu tiêu hủy 01 biển số 16N5-5728.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen có số khung RLHHC1206BY602676, số máy HC12E3401714 ( không có biển số ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 vỏ màu xanh bên trong có nắp 01 sim có số thuê bao 0982.713.526 thu giữ của bị cáo Bùi Duy K.

    (Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án huyện Yên Mỹ).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Duy K phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Duy K phạm tội Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger