|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày 04 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và ông Dương Quốc Hưng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương và ông Ngô Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành Đ
- Sinh ngày: 21/4/1987 tại tỉnh Hoà Bình.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường K, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quang T - Sinh năm: 1956 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị T1 - Sinh năm: 1957 (Đã chết); gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ 02 trong gia đình; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Anh Ngô Quốc Đ1 - Sinh ngày: 11/11/1990;
- Chị Dương Thị Q - Sinh ngày: 10/5/1993 (Là vợ anh Đ1);
Cùng nơi cư trú: TDP L, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Dương Bá H - Sinh ngày: 08/9/1993. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Trần Văn Đ2 - Sinh ngày: 07/11/1987.
Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm và thu nhập, nợ tiền của nhiều người nên bị cáo Nguyễn Thành Đ đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô của chị Dương Thị Q để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Khoảng 10 giờ ngày 27/12/2024, Nguyễn Thành Đ đến quán tạp hóa của chị Q ở TDP L, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, gặp và nói với chị Q: “cho anh mượn xe chạy ra đây một tí”. Do đã quen biết và tin tưởng Đ nên chị Q đã đồng ý cho Đ mượn xe chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát (BKS): 20M7-6296, chiếc xe trên giấy đăng ký mô tô xe máy mang tên anh Ngô Quốc Đ1 (Là chồng chị Q1). Sau khi mượn được xe, Đ1 điều khiển đi đến Khu công nghiệp Đ thuộc xã Đ, huyện P tìm chỗ cầm cố nhưng không được. Do không tìm được chỗ cầm cố xe, Đ1 đi đến phòng trọ của anh Trần Văn Đ2 ở Khu công nghiệp Đ. Tại đây, Đ1 nhờ anh Đ2 chỉ chỗ cầm cố xe nhưng anh Đ2 bảo không biết. Lúc này, ở phòng trọ của anh Đ2 có một người phụ nữ (anh Đ2 khai tên là T2, không rõ tuổi và địa chỉ) đang ngồi chơi ở đó, anh Đ2 hỏi T2 có biết chỗ nào cầm cố xe không, T2 bảo biết chỗ, nhưng phải cho T2 250.000 đồng, Đ1 đồng ý. Sau đó, Đ1 điều khiển xe chở T2 đưa đến gặp anh Dương Bá H để cầm cố xe. Tại đây, anh H hỏi giấy tờ xe thì Đ1 bảo chiếc xe là của mình, giấy tờ để ở nhà, do tin lời Đ1 nên anh H đồng ý cho Đ1 vay số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Đ1 cho T2 250.000 đồng, sau đó Đ1 bắt xe buýt đến thành phố T hết số tiền còn lại.
Sau khi cho Đ1 mượn xe, chị Q nhiều lần nhắn tin, gọi điện bảo Đ1 trả lại xe nhưng không được. Đến ngày 06/01/2025, anh Ngô Quốc Đ1 đã làm đơn tố giác gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/01/2025, anh Dương Bá H đến Cơ quan điều tra tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 20M7-6296, là xe bị cáo Nguyễn Thành Đ đã cầm cố.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô do Nguyễn Thành Đ chiếm đoạt. Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS, ngày 16/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát: 20M7-6296, xe đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 27/12/2024, trị giá 5.333.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, BKS: 20M7-6296, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Ngô Quốc Đ1 quản lý, sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng, đã qua sử dụng do Nguyễn Thành Đ giao nộp ngày 27/02/2025, được chuyển bảo quản, quản lý theo đúng quy trình quản lý vật chứng.
Về phần trách nhiệm dân sự: Vợ chồng anh Ngô Quốc Đ1 đã được nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Dương Bá H đề nghị bị cáo Đ1 bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, hiện bị cáo chưa bồi thường số tiền trên cho anh H.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSSC, ngày 08-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 của BLHS.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Nguyễn Thành Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, là đúng người, đúng tội, không oan.
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn thành Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Đ từ 09 - 12 tháng tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Tạm giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Thành Đ nhất trí quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình.
Khi được nói lời sau cùng bị cáo Nguyễn Thành Đ nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 27/12/2024, tại quán tạp hóa của chị Dương Thị Q thuộc TDP L, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, lợi dụng sự tin tưởng của chị Q, bị cáo Nguyễn Thành Đ đã đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát: 20M7-6296 trị giá 5.333.000 đồng của vợ chồng chị Dương Thị Q, sau khi chiếm đoạt được chiếc xe mô tô nói trên, bị cáo Đ đã mang đi cầm cố cho anh Dương Bá H được số tiền 2.500.000 đồng và đã tiêu sài hết số tiền trên.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thành Đ là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc phải nhận thức và biết được hành vi đó của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của BLHS năm 2015. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 174 BLHS. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là ít nghiêm trọng, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương và gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tác động, đề nghị chị gái bồi thường cho anh Dương Bá H số tiển 2.500.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của BLHS.
Về nhân thân, thấy bị cáo Nguyễn Thành Đ là người có sức khoẻ, nhưng không chịu lao động làm ăn chân chính, lại thích hưởng thụ, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, nhưng căn cứ nhân thân cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần lên một mức án tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của BLHS năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã có hành cáo đã có hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 20M7 - 6296 thuộc quyền sở hữu của vợ chồng anh Ngô Quốc Đ1 và Dương Thị Q. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu hồi chiếc xe mô tô nêu trên và đã giao, trả lại cho vợ chồng anh Đ1 quản lý, sử dụng, nay vợ chồng anh Đ1 không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Đối với anh Dương Bá H là người đã nhận cầm cố chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 20M7 - 6296 do bị cáo Đ1 chiếm đoạt của vợ chồng anh Ngô Quốc Đ1 để vay số tiền là 2.500.000 đồng. Tuy nhiên chiếc xe mô tô này không thuộc quyền sở hữu của bị cáo, sau khi vụ việc bị phát hiện, anh H đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe mô tô này cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo quy định. Quá trình điều tra, anh H yêu cầu bị cáo trả lại cho anh số tiền nêu trên là có căn cứ, tuy nhiên ngày 03/6/2025 chị gái bị cáo Đ1 đã bồi thường cho anh H số tiền 2.500.000 đồng, anh H đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS xử lý vật chứng vụ án như sau:
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng, đã qua sử dụng, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, biện pháp chấp hành hình phạt tù, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng vụ án ... là phù hợp với các quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
[8] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thành Đ với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.
[9] Trong vụ án này, có người phụ nữ tên T2 là người đã đưa bị cáo đến cầm cố chiếc xe mô tô cho anh Dương Bá H để lấy số tiền 2.500.000 đồng, nhưng bị cáo Đ, anh Trần Văn Đ2 và anh Dương Bá H đều không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của người phụ nữ này, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ.
Đối với, anh Trần Văn Đ2 và anh Dương Bá H không biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen-bạc, BKS: 20M7 - 6296 là tài sản do bị cáo Đ phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu một khoản án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ;
- - Điều 48 của BLHS và các Điều 106, Điều 136 và Điều 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 28/02/2025).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 174 của BLHS.
- Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thành Đ với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/6/2025).
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng vụ án như sau: Tạm giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đã qua sử dụng (Được niêm trong trong hộp bì niêm phong ký hiệu “ĐẠT”) để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo Nguyễn Thành Đ.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.
- Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo (Nguyễn Thành Đ) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại (Anh Ngô Quốc Đ1 và chị Dương Thị Q) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đạt lừa đảo chiếm đoạt tài sản
