Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Khánh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thắng và bà Võ Thị Trúc Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Thái Văn P; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 01/8/1998, tại Quảng Trị; Trú tại: Khu phố E, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Thái Văn T, sinh năm 1972, và con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1977, hiện đều trú tại Khu phố E, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo Thái Văn P bị tạm giữ vào ngày 12/8/2024, sau đó ngày 21/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Ngày 07/01/2025, VKSND thành phố Đông Hà đã ra Quyết định thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh.

Hiện nay, Thái Văn P đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/01/2025 đến nay. Có mặt.

Bị hại:

- Anh Võ Văn B, sinh năm 2000, trú tại: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1977; Trú tại: Khu phố E, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

- Ông Thái Văn T, sinh năm 1972; Trú tại: Khu phố E, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

- Anh Lê Trọng Â, sinh năm 1991; Trú tại: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Xanh B1, sinh năm 2001; Trú tại: Khu phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

- Anh Võ Hoàng Đ, sinh năm 2001; Trú tại: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

- Anh Phan Văn T1, sinh năm 2003; Trú tại: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

- Anh Trần Vĩnh T2, sinh năm 2003; Trú tại: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 11/8/2024, Thái Văn P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, BKS 74C1-480.79 (là tài sản hợp pháp của ông Thái Văn T, sinh năm 1972, trú tại khu phố E, phường A, thành phố Đ, là bố ruột của P) đến quán cà phê X ở địa chỉ số C đường N (thuộc Khu phố C, phường E, thành phố Đ) và ngồi uống nước một mình. Khoảng 10 phút sau, Võ Văn B (sinh năm 2000, trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố Đ), Võ Hoàng Đ (sinh năm 2001, trú tại khu phố B, phường A, thành phố Đ) và Nguyễn Xanh B1 (sinh năm 2001, trú tại khu phố D, phường Đ, thành phố Đ) đến ngồi uống nước sát bàn của P. P nghe B nói chuyện cùng nhóm bạn và P cho rằng không chuẩn mực nên cảm thấy bức xúc. Đến 20 giờ 30 cùng ngày, P thanh toán tiền và trở về nhà ở tại kiệt số D đường N (thuộc khu phố E, phường A, thành phố Đ). Khi đang ngồi ở nhà, P nhớ lại lời nói của B tại quán cà phê X nên muốn quay lại đánh nhóm thanh niên trên. P lấy 01 cây kéo ở phòng bếp để vào túi quần sau phía bên trái và điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, BKS: 74C1-480.79 quay lại quán C. Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, P dừng xe ở lề đường rồi tiến đến hỏi B: “Nhà mi ở mô”, B hỏi lại: “Anh hỏi nhà em làm chi à?”, thì P hỏi tiếp: “Mi biết tau là ai không?” và dùng tay trái lấy kéo từ túi quần sau rồi đưa cây kéo qua tay phải đâm trúng vùng đầu của B. B dùng hai tay ôm đầu và đứng dậy bỏ chạy thì bị P đâm 04 lần trúng vùng bả vai và vùng tay. Trong lúc B bỏ chạy, P tiếp tục dùng kéo đâm thêm 02 lần vào người B trúng vùng hông và chân. B bỏ chạy theo lối cửa chính vào trong quán cà phê, P cầm kéo đuổi theo. B tiếp tục chạy ra đường N về phía Trung tâm Văn hóa tỉnh Q. P điều khiển xe mô tô đuổi theo nhưng thấy B đã chạy xa nên P không đuổi theo nữa và điều khiển xe mô tô trở về nhà và rửa vết máu dính trên kéo rồi cất tại phòng bếp.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 169/KLTTCT-TTPY ngày 19/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Q kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Văn B tại thời điểm giám định là 11%. Các tổn thương trên phù hợp với vật có cạnh sắc tác động gây nên.

Tại Kết luận giám định số 1850/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trên cây kéo và áo thun của Thái Văn P mà Cơ quan điều tra tạm giữ có vết máu của bị hại Võ Văn B.

Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1815/KLGÐ ngày 07/10/2024 của Trung tâm P1 kết luận:

  • + Tại thời điểm phạm tội và thời điểm hiện tại:
  • + Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Trạng thái loạn thần di chứng do sử dụng nhiều loại ma túy.
  • + Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 57.000.000 đồng cho bị hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình

Đồ vật thu giữ gồm:

  • - 01 cây kéo dài 22 cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 12cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm, trên lưỡi có dòng chữ MARLIN.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, BKS: 74C1-480.79, số máy E23VE405883, số khung RLCUE3740MY110122 (đã qua sử dụng).
  • - 01 áo thun màu xám, cỡ XL, có dòng chữ “FATCHOY”, trên áo có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu, đã qua sử dụng.
  • - 01 quần thun màu xám, cỡ XL, có dòng chữ FATCHOY, đã qua sử dụng.
  • - 01 ly nhựa trong suốt cao 10,5 cm, đường kính miệng ly 9,5 cm;
  • - 01 ly bằng sứ màu trắng cao 06 cm có quai, đường kính miệng ly 07 cm;
  • - 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long;
  • - 01 ly sứ màu trắng cao 4,5cm;
  • - 01 dĩa sứ màu trắng có đường kính 11cm;.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Văn B yêu cầu bị cáo Thái Văn P bồi thường số tiền 57.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSĐH ngày 24 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Thái Văn P về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (được dẫn chiếu tại các điểm a, i khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự)

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị luận tội giữ nguyên bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thái Văn P 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về án phí: Bị cáo Thái Văn P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có cơ sở để kết luận:

Ngày 11/8/2024, Mặc dù không quen biết, không có mâu thuẫn từ trước với Võ Văn B nhưng Thái Văn P đã vô cớ sử dụng hung khí nguy hiểm (cây kéo) đâm nhiều nhát vào người B gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 11%. Thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (được dẫn chiếu tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của công dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, xét thấy tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1815/KLGĐ ngày 07/10/2024 của Trung tâm P1 kết luận: Tại thời điểm phạm tội và thời điểm hiện tại bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên cần xem xét mức hình phạt của bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi và điệu kiện chữa bệnh của bị cáo.

Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về mức hình phạt: Căn cứ vào các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng trong khung hình phạt liền kề. Thấy rằng, tại thời điểm thực hiện hành vi và hiện tại bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi và nhận thức nên đang trong quá trình cùng gia đình chữa bệnh. Giai đoạn này bị cáo cần sự giúp đỡ quan tâm, chăm sóc của gia đình nên

cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 30 tháng đến 36 tháng Cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Xét thấy, Thái Văn P bệnh tật, không có nghề nghiệp nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[6] Đối với anh Thái Văn T không biết việc P sử dụng xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, BKS 74C1-480.79 để đi đến quán C gây thương tích cho B nên không xem xét trách nhiệm.

Đối với bà Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu của cây kéo dài 22 cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 12cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm, trên lưỡi có dòng chữ MARLIN, không biết việc P sử dụng cây kéo để gây thương tích cho B nên không xem xét trách nhiệm.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 cây kéo dài 22 cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 12cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm, trên lưỡi có dòng chữ MARLIN, đã qua sử dụng.
  • - 01 áo thun bằng vải, màu xám, cỡ XL, có dòng chữ “FATCHOY”, trên áo có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu, đã qua sử dụng.
  • - 01 quần thun bằng vải màu xám, cỡ XL, có dòng chữ FATCHOY, đã qua sử dụng.

[9] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[10] Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15/2025/HSST – LCĐKNCT ngày 24/01/2025, Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 08/2025/QĐ – TA ngày 24/01/2025 đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thái Văn P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Thái Văn P 36 (ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nhận được quyết định thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến ngày 07/01/2025 (14 tháng 27 ngày).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cùng gia đình giám sát, quản lý và giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Luật Thi hành án Hình sự 2019

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15/2025/HSST – LCĐKNCT ngày 24/01/2025, Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 08/2025/QĐ – TA ngày 24/01/2025 đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 cây kéo dài 22 cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 12cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm, trên lưỡi có dòng chữ MARLIN, đã qua sử dụng.
  • - 01 áo thun bằng vải, màu xám, cỡ XL, có dòng chữ “FATCHOY”, trên áo có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu, đã qua sử dụng.
  • - 01 quần thun bằng vải màu xám, cỡ XL, có dòng chữ FATCHOY, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 02 năm 2025).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Thái Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, đóng dấu)

Ngô Thị Khánh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger