|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 30/2025/HS-PT Ngày: 27-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Thanh.
- Các Thẩm phán: Ông Lê Vũ Tiến và Ông Huỳnh Trọng Cẩn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Bảo Lâm, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Huế, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLPT-HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo Phan Ngọc B; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
Bị cáo có kháng cáo:
Phan Ngọc B (Tên gọi khác: Không); sinh ngày: 21/4/1989 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nơi cư trú: 1 đường B, phường G, thành phố H (nay là quận P), tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Phan T và bà Phan Thị T1; vợ Dương Thị Mai T2, sinh năm 1993 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/11/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 01/01/2023, Phan Ngọc B được tuyển dụng làm nhân viên giao hàng của Công ty TNHH Một thành viên C1 - Chi nhánh N4 và làm việc tại bưu cục Địa điểm kinh doanh số 03 Công ty TNHH Một thành viên C1 - Chi nhánh N4; địa chỉ số CN, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến ngày 28/01/2023, Phan Ngọc B được điều chuyển đến làm việc tại bưu cục số 234A02 của công ty C1 tại địa chỉ Lô D khu đô thị M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (do ông Nguyễn Đôn T3, sinh năm 1994, ở số B, đường P, phường Đ, thành phố H làm trưởng bưu cục) với vị trí nhân viên kho kiêm nhân viên giao hàng. B phụ trách phân hàng, quét bàn giao, nhận bàn giao hàng và tiến hành giao các đơn hàng có khối lượng lớn cho người nhận có địa chỉ trên địa bàn huyện P, thành phố H và nhận tiền COD (giao hàng cho khách và thu tiền hàng), tiền cước nộp về cho T4 bưu cục hoặc A (Lễ tân, người quản lý tiền và hàng) vào mỗi tối hàng ngày theo quy định của công ty vào lúc 19 giờ 30 phút, nếu không nộp kịp thì nộp muộn nhất là vào lúc 09 giờ của ngày làm việc tiếp theo.
Do cần tiền sử dụng cho mục đích cá nhân, lợi dụng việc thiếu kiểm tra của ông Nguyễn Đôn T3 - Trưởng bưu cục và hai nhân viên A là Hoàng Thị T5 (sinh năm 1992, HKTT tại Tổ A, phường T, thị xã H) và Hoàng Nguyễn Mỹ T6 (sinh năm 1991, HKTT, tại Thôn T, xã Q, huyện Q) nên từ ngày 01/6/2023 đến ngày 06/6/2023, sau khi nhận hàng từ bưu cục, Phan Ngọc B đã giao thành công các đơn hàng cho khách hàng và đã có thu tiền COD, tiền cước của khách nhưng khi nhập thông tin vào phần mềm giao hàng của công ty B5 chỉ nhập thông tin hoàn thành giao hàng một số đơn hàng và nộp tiền các đơn hàng này về cho bưu cục, còn các đơn hàng mà B muốn chiếm đoạt tiền COD và tiền cước thì Bảo nhập thông tin giả là giao hàng không thành công, đơn hàng có vấn đề, không ký nhận hoặc khách hẹn giao ngày khác, sau đó Bảo ghi nhớ mã vận đơn của các đơn hàng chưa hoàn thành này để ngày làm việc tiếp theo Bảo nhập lại mã vận đơn vào phần mềm nhằm mục đích cho người quản lý ghi nhận thông tin B tiếp tục đi giao lại các đơn hàng này cho khách mà không biết là các đơn hàng đã được giao thành công. Với phương thức tương tự như vậy, từ ngày 01/6/2023 đến ngày 06/6/2023 B đã chiếm đoạt tiền COD và tiền cước của tổng cộng 44 đơn hàng với tổng giá trị là 106.385.134 đồng, cụ thể như sau:
- Ngày 02/6/2023:
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201555192) tên người nhận là Hằng T7 (chị Trần Thị H ở F H, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) có số tiền phải thu là 22.500.000 đồng, sau khi nhận hàng chị H đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q của B (số tài khoản 0949433232).
- + 02 đơn hàng, bao gồm 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802105864580) có số tiền phải thu là 2.132.000 đồng và 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802105864336) số tiền phải thu là 2.183.000 đồng, tổng giá trị 02 đơn hàng là 4.315.000 đồng, tên người nhận là VL Moon (chị Nguyễn Thị Ánh N ở Số D, Kiệt F, đường N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế), sau khi nhận hàng chị N đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q của B (số tài khoản là 0949433232).
Như vậy, ngày 02.06.2023, Phan Ngọc B đã chiếm đoạt 03 đơn hàng, trị giá là 26.815.000 đồng.
- Ngày 04/6/2023:
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802105864335) có số tiền phải thu là 2.191.000 đồng, tên người nhận là VL M (chị Nguyễn Thị Ánh N), sau khi nhận hàng chị N đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q của B (số tài khoản là 0949433232). Số tiền này B đã chiếm đoạt.
- Ngày 05/6/2023:
Phan Ngọc B được giao chuyển hàng 52 đơn hàng (gồm 03 đơn đã chiếm đoạt của ngày 02/6/2023), B đã chuyển thành công 32 đơn hàng và nộp tiền về cho bưu cục, còn lại 20 đơn hàng gồm 05 đơn hàng khách hàng chưa nhận được B đã nộp về tại kho của bưu cục, 15 đơn hàng đã chuyển thành công nhưng B báo lên phần mềm là giao hàng không thành công, kiện có vấn đề (gồm 03 đơn đã chiếm đoạt của ngày 02/6/2023), chiếm đoạt 12 đơn mới gồm:
- + 06 đơn hàng (mã vận đơn lần lượt là: 842201832206, 842201832283, 842201832256, 842201832107, 842201832143, 842201832173) có số tiền phải thu là 24.043.000 đồng, tên người nhận là C U (chị Đặng Thị Uyên N1, ở số A, đường B, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế), sau khi nhận hàng chị N1 đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q của B (số tài khoản là 0949433232).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201515569) có số tiền phải thu là: 2.000.000 đồng, tên người nhận là KY ANH NGUYEN (bà Nguyễn Tổng Kỳ A1, ở Kiệt G, đường H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế), sau khi nhận hàng bà A1 đã trả tiền mặt cho B.
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201788458) có số tiền phải thu là 2.735.000 đồng, tên người nhận là Phạm L (tr) (chị Nguyễn Thị Kim P, hiện ở Số A, đường P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) sau khi nhận hàng chị P đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q của B (số tài khoản là 0949433232).
- + 02 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201798529, 842201798527) có số tiền phải thu là 14.325.000 đồng, tên người nhận là Qn T Shirt (anh Trần Hữu T8, ở số C Kiệt C, đường B, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Huế, sau khi nhận hàng anh T8 đã trả tiền mặt cho B.
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802105660215) có số tiền phải thu là 1.818.000 đồng, tên người nhận là VL T9 (chị Hoàng Thị Nha T9, ở số C, đường N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Huế), sau khi nhận hàng chị T9 đã trả tiền mặt cho B.
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 84200031660) có số tiền phải thu là 186.000 đồng, tên người nhận là K (anh Ngô Đạt Anh K, ở Số 12c, Xóm D, TDP L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Huế), sau khi nhận hàng anh K đã trả tiền mặt cho B.
Ngày 05.06.2023, Phan Ngọc B chiếm đoạt 12 đơn hàng, trị giá tiền COD, tiền cước là 45.107.000 đồng.
- Ngày 06/6/2023:
Phan Ngọc B nhận chuyển giao 53 đơn hàng (gồm 16 đơn hàng đã chiếm đoạt của ngày 02/6/2023, 04/6/2023 và 05/6/2023) gồm: 02 đơn hàng khách trả lại nhưng chưa lấy về để nộp lại cho bưu cục, 05 đơn hàng chưa giao thì B đã nộp lại cho bưu cục, 02 đơn hàng đã giao cho khách không phải thu tiền, còn laị 44 đơn hàng đã chuyển nhưng Báo báo lên phần mềm là G1, kiện có vấn đề (có 16 đơn hàng đã chiếm đoạt của ngày 02/6/2023; 04/6/2023 và 05/6/2023), chiếm đoạt 28 đơn mới gồm:
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802106268170) có số tiền phải thu là 494.000 của khách hàng tên là Dương Á, ở P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802105930163) có số tiền phải thu là 902.000 đồng của bà Phạm Thị H1, ở Số H, H, Kiệt A, đường N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- + 05 đơn hàng (mã vận đơn lần lượt là: 802106580107, 802106580110, 802106580109, 802106580108, 802106580106) có số tiền phải thu là 14.902.000 đồng tên người nhận là VL Thu T10 (chị Nguyễn Thị Thu T10, ở Số C, đường V, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802106220197) có số tiền phải thu là 905.000 đồng, tên người nhận là 9061 (chị Huỳnh Ngọc Bảo A2, ở Số nhà D,Kiệt G, Nguyễn Sinh C, V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802105977095) có số tiền phải thu là 1.500.000 đồng, tên người nhận là Văn L1 (bà Nguyễn Tống Kỳ A3, ở Kiệt G, đường H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802105973568) có số tiền phải thu là 1.168.000 đồng, tên người nhận là Bảo M1 (anh Nguyễn Phước Bảo M1, địa chỉ: Số I, đường N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201922616) có số tiền phải thu là 1.140.000 đồng, tên người nhận là Phương L2 (bà Hồ Thị Hồng L3, địa chỉ: 59b, kiệt B, đường P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802106577135) có số tiền phải thu là 1.349.000 đồng, tên người nhận là VI_Moon (chị Nguyễn Thị Ánh N, ở Số D, Kiệt F, đường N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 802104876687) có số tiền phải thu là 500.000 đồng, tên người nhận là Áo Dài Huế X (có địa chỉ: C H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201832173) có số tiền phải thu là 970.000 đồng, tên người nhận là Dung Lê H2 (ở Xóm E, TDP N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là:842201838108) có số tiền phải thu là 1.627.000 đồng, tên người nhận là Huan N2 (anh Nguyễn Hữu Â, có địa chỉ: Xóm E, TDP N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: JNTMP0016809206VNA) có số tiền phải thu là 1.208.600 đồng, tên người nhận là Dương Tử G (có địa chỉ: Số C, N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201528764) có số tiền phải thu là 1.764.000 đồng, tên người nhận là A H3 (anh Nguyên Thiện H4, địa chỉ là: N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201831222) có số tiền phải thu là 465.000 đồng, tên người nhận là Hòa B1 (địa chỉ: Số E, kiệt H, TDP N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 841300346480) có số tiền phải thu là 25.000 đồng, tên người nhận là Hồ Nhất P1 ( địa chỉ: 3, đường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 841201996980) có số tiền phải thu là 205.000 đồng, tên người nhận là Bảo Hân H5 (địa chỉ: Số nhà B, kiệt A, tổ H, T phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201991700) có số tiền phải thu là 1.195.999 đồng, tên người nhận là Như H6 (địa chỉ: Số I, Nguyễn Sinh C, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 855644763744) có số tiền phải thu là 409.000 đồng, tên người nhận là Kiều M2 (địa chỉ: Số A, đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 855647857511) có sô tiền phải thu là 329.800 đồng, tên người nhận là B (anh Lê Quốc B2, địa chỉ: A, Nguyễn Sinh C, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 855643379825) có số tiền phải thu là 631.000 đồng,, tên người nhận là Mai Thảo V (chị Mai Thảo V, địa chỉ: A, H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 855647766525) có số tiền phải thu là 174.636 đồng, tên người nhận là T11 (chị Võ Thị Cẩm T11, địa chỉ: D, đường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 01 đơn hàng (mã vận đơn là: 855636366297) có số tiền phải thu là 296.100 đồng, tên người nhận là Phan Thị N3 (địa chỉ: Số G, đường N, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
- + 02 đơn hàng (mã vận đơn là: 842201894262; 842201890736) có số tiền phải thu là 110.000 đồng, tên người nhận là A B3 (anh Đào Đức B4, địa chỉ: Số A, đường N, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).
Ngày 06.06.2023, Phan Ngọc B đã chiếm đoạt 28 đơn hàng với trị giá tiền COD, tiền cước là 32.272.134 đồng.
Sau khi Phan Ngọc B chiếm đoạt và tiêu xài cá nhân hết số tiền 106.385.134 đồng thì bị bưu cục phát hiện nên đã trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra.
* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 (một) tập tài liệu liên quan các đơn hàng, bản cam kết trả tiền khắc phục và hình ảnh chuyển tiền liên quan việc Phan Ngọc B chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH MTV C1 - Chi nhánh N4 có đóng dấu của công ty và xác nhận của chị Hoàng Thị T12 gồm 18 tờ A4 có bản thống kê kèm theo.
- 01 (một) tập tài liệu gồm 26 tờ A4, thể hiện liên quan pháp nhân của Công ty C1 - Chi nhánh N4 và các tài liệu liên quan hợp đồng lao động của Công ty C1 - Chi nhánh N4 với Phan Ngọc B có bản thống kê kèm theo.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 73K4-8357. Xe mô tô này đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Dương Đinh Thi .
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Phan Ngọc B cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền 106.385.134 đồng để khắc phục hậu quả cho Công ty.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 29/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Phú vang đã quyết định:
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc B phạm tội “Tham ô tài sản”. Xử phạt Phan Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10/9/2024, bị cáo Phan Ngọc B có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét định tội danh sang tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phan Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết gì mới để xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, không chấp nhận nội dung kháng cáo chuyển tội danh vì hành vi phạm tội của bị cáo có đủ căn cứ pháp luật theo qui định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 của tội “Tham ô tài sản”. Đồng thời không đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự theo hướng dẫn Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đã có cơ sở để kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên từ ngày 01/6/2023 đến ngày 06/6/2023 khi đang là nhân viên kho kiêm nhân viên giao hàng tại bưu cục số 234A02 của công ty C1 tại địa chỉ Lô D khu đô thị M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (do ông Nguyễn Đôn T3 làm trưởng bưu cục), với chức trách nhiệm vụ và quyền hạn được Công ty G2, B đã lợi dụng việc sơ hở trong khẩu quản lý nên sau khi nhận hàng từ bưu cục, B giao thành công các đơn hàng cho khách và đã có thu tiền COD, tiền cước nhưng khi nhập thông tin vào phần mềm giao hàng của công ty B5 chỉ nhập thông tin hoàn thành giao hàng một số đơn hàng và nộp tiền các đơn hàng này về cho bưu cục, còn các đơn hàng mà B muốn chiếm đoạt tiền COD và tiền cước thì Bảo nhập thông tin giả là giao hàng không thành công, đơn hàng có vấn đề, không ký nhận hoặc khách hẹn giao ngày khác, sau đó Bảo ghi nhớ mã vận đơn của các đơn hàng chưa hoàn thành này đề ngày làm việc tiếp theo Bảo nhập lại mã vận đơn vào phần mềm nhằm mục đích cho người quản lý ghi nhận thông tin B tiếp tục đi giao lại các đơn hàng này cho khách mà không biết là các đơn hàng đã được giao thành công.
Với phương thức và thủ đoạn như trên B đã nhiều lần chiếm đoạt tiền COD và tiền cước của tổng cộng 44 đơn hàng với tổng giá trị là 106.385.134 đồng. Sau khi B chiếm đoạt và tiêu xài cá nhân hết số tiền 106.385.134 đồng, Bưu cục phát hiện hành vi của B nên đã trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra.
Với hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội: “Tham ô tài sản”; Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xem xét định tội danh sang tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và cho bị cáo được hưởng án treo của bị cáo Phan Ngọc B, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Đối với nội dung kháng cáo xem xét định tội danh sang tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, xét thấy:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có kiến thức đáp ứng đủ tiêu chí tuyển dụng làm việc là nhân viên giao hàng tại Công ty TNHH Một thành viên C1 - Chi nhánh N4. Bị cáo được công ty giao nhiệm vụ nhân viên kho kiêm nhân viên giao hàng và nhận tiền COD (giao hàng cho khách và thu tiền hàng). Trong quá trình làm việc khi được công ty phân công giao hàng cho khách hàng, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý, kiểm tra của Công ty, bị cáo đã lợi dụng chức trách, nhiệm vụ quyền hạn được giao để chiếm đoạt tiền; bằng hành vi cụ thể thông qua việc thực hiện việc giao hàng thành công và đã nhiều lần thu tiền của khách nhưng bị cáo chỉ nhập thông tin hoàn thành một số đơn hàng, còn lại các đơn hàng khác do bị cáo muốn chiếm đoạt tiền COD của công ty nên bị cáo đã thực hiện việc kê khai trên phần mềm gian dối tránh sự phát hiện của cấp trên.
Với hành vi nêu trên, bị cáo đã lợi dụng trách nhiệm, quyền hạn là được công ty giao thực hiện việc thu hộ tiền COD để chiếm đoạt tiền của công ty phục vụ cho việc tiêu xài của cá nhân; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành cơ bản được qui định tại Điều 353 của tội “Tham ô tài sản”, không có căn cứ để xem xét xác định tội danh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như nội dung kháng cáo của bị cáo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo tội “Tham ô tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2]. Đối với nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của công ty với số tiền lớn, thực hiện việc chiếm đoạt rất nhiều lần. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn tác động xấu đến tình hình trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn, do đó cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt tù để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 04 năm 06 tháng là tương xứng mức độ, tính chất nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo phạm tội nhiều lần và thuộc tội phạm nghiêm trọng nên không đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự theo hướng dẫn tại điểm b khoản 5 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN -TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm các tài liệu bị cáo cung cấp một phần đã được xem xét tại cấp sơ thẩm và được áp dụng theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới để xem xét nội dung kháng cáo. Do đó, không có đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, buộc bị cáo Phan Ngọc B phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Ngọc B, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H).
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc B phạm tội “Tham ô tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phan Ngọc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án số 30/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự - tham ô tài sản
- Số bản án: 30/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
