|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS-PT Ngày: 14 – 3 – 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung
Bà Lê Thị Tố Như
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Thiều Thị Hương – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 34/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Ngọc T cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
- Các bị cáo kháng cáo:
- Lê Ngọc T - sinh năm 1988; nơi ĐKNKTT: Xóm A, thôn H, xã H, huyện N, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; nơi ở hiện nay: 2 đường số E, khu phố H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Lê Ngọc V và bà Lương Thị Kiều N; có vợ là Nguyễn Thị Thu T1 và 02 con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: 18/6/2024; tạm giam: 24/6/2024. có mặt.
- Nguyễn Thị H - sinh năm 1983; nơi ĐKNKTT tại: SN D Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: SN C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; có chồng là Cù Ngọc B1 và 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: 23/6/2024. Là đảng viên Đ2 bị đình chỉ sinh hoạt đảng; có mặt.
- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: 04 bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 17/6/2024, tại đường T, phường Đ, thành phố T. Tổ công tác thuộc Công an thành phố T phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T tuần tra kiểm soát phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 36E-000.47 của hãng T8 đang dừng trả khách có biểu hiện nghi vấn chở hàng cấm. Tiến hành kiểm tra phát hiện trên xe chở Khương Anh D đang mang theo 05 thùng giấy carton bên trong chứa đựng 2.580 bao thuốc lá nhãn hiệu “BLEND No. 555” đi tiêu thụ, D không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ của số hàng hóa. Tổ công tác đưa D cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Đ, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Khám xét khẩn cấp nhà ở Khương Anh D tại số I ngõ G L, phường Đ, thành phố T. Cơ quan điều tra thu giữ thêm 01 thùng giấy carton bên trong chứa đựng 400 bao thuốc lá nhãn hiệu “ZEST MARULA”.
Tại Cơ quan điều tra, Khương Anh D khai nhận: Khoảng giữa năm 2023, thông qua mạng xã hội Zalo, D có quen biết với người có tài khoản cá nhân tên “Tuấn K” giới thiệu với D là có bán thuốc lá điếu các loại do nước ngoài sản xuất như: Blend No.555, M, C... Đầu tháng 6/2024, có tài khoản Z mang tên “Được Và Mất” nhắn tin cho D hỏi mua 258 cây thuốc lá nhãn hiệu “BLEND No.555” và 40 cây thuốc lá nhãn hiệu “ZEST MARULA”, Du báo lại khoảng giữa tháng 6/2024 sẽ có hàng. Sau đó, D liên hệ với tài khoản Z tên “Tuấn K” để đặt vấn đề mua 258 cây thuốc lá nhãn hiệu “BLEND No. 555” và 40 cây thuộc lá nhãn hiệu “ZEST MARULA” và được báo giá 100.000đ/cây, D đồng ý và chuyển nhiều lần với tổng số tiền 29.800.000 đồng đến số tài khoản 19036855978011 của ngân hàng T9 mang tên Le Ngoc T2. Sau khi nhận đủ tiền, Lê Ngọc T chuyển hàng cho D qua đường chuyển phát nhanh (các bị cáo không nhớ tên đơn vị vận chuyển) 298 cây bằng 2.980 (Hai nghìn chín trăm tám mươi) bao thuốc lá như trên, khi chưa kịp tiêu thụ bị Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ.
Ngày 18/6/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi Lê Ngọc T cất giấu thuốc lá điếu nhập lậu tại số nhà G D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 27 thùng giấy carton bên trong chứa đựng 13.500 (Mười ba nghìn năm trăm) bao thuốc lá (tất cả đều in chữ nước ngoài trên từng bao thuốc lá), gồm: 10 thùng bên trong chứa đựng 5.000 bao thuốc lá màu đỏ nhãn hiệu “CHUNGHWA”; 04 thùng bên trong chứa đựng 2.000 bao thuốc lá màu xanh lá in chữ nước ngoài trên từng bao; 05 thùng bên trong chứa đựng 2.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu màu đỏ hồng nhãn hiệu “YUXI”; 04 thùng bên trong chứa đựng 2.000 bao thuốc lá màu xám vàng nhãn hiệu “FILTERCIGARETTES"; 04 thùng bên trong chứa đựng 2.000 bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu “YUHUASHI”.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Ngọc T khai nhận: 27 thùng giấy carton bên trong chứa đựng 13.500 bao thuốc lá đều là thuốc lá nhập lậu. Nguồn gốc thuốc lá do vào khoảng đầu tháng 6/2024, Nguyễn Thị H đã trao đổi bàn bạc và thống nhất với Lê Ngọc T cùng buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu. H chịu trách nhiệm tìm nguồn thuốc lá và chuyển về nơi tập kết tại Thành phố Hồ Chí Minh để T cất giữ, đóng gói, chuyển cho khách hàng theo địa chỉ H cung cấp, T được hưởng lợi 450.000đ/thùng. Ngày 18/6/2024 H chuyển cho T 27 thùng thuốc lá điếu nhập lậu như trên, khi chưa kịp tiêu thụ thì bị thu giữ.
Ngoài buôn bán thuốc lá chung với Nguyễn Thị H. Khoảng giữa tháng 6 năm 2024, Lê Ngọc T một mình bán riêng cho Khương A Du 2.980 (Hai nghìn chín trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu như trên. Bán cho Trịnh Thị H1 1.600 (Một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 1.020 (Một nghìn không trăm hai mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “BLEND No. 555” với giá 9.000đ/bao (Chín nghìn đồng) và 580 (Năm trăm tám mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “Chapman” với giá 30.000đ/bao (Ba mươi nghìn đồng).
Nguồn gốc số lượng thuốc lá Lê Ngọc T bán cho Khương Anh D và Trịnh Thị H1 là do T mua của một số người không quen biết trên mạng xã hội và Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978, trú tại ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An với giá 7.000đ/bao (Bảy nghìn đồng). Thạch không nhớ mua của từng đối tượng số lượng cụ thể. Thạch được hưởng lợi từ việc bán thuốc lá cho D và H1 số tiền 24.320.000₫ đồng.
Ngày 18/6/2024, biết T bị bắt, Trịnh Thị H1 ra đầu thú và tự nguyện giao nộp toàn bộ số thuốc lá đã mua chưa kịp tiêu thụ. Tại Cơ quan điều tra, H1 khai nhận: Khoảng đầu năm 2024, thông quan mạng xã hội Facebook, H1 quen biết với Lê Ngọc T có buôn bán thuốc lá điếu các loại, T cho H1 số điện thoại 0967.764.xxx để kết bạn Zalo, H1 lưu tên Z của T là “Chị H2”, còn H1 dùng tài khoản Zalo tên “Khánh L” để liên hệ với T đặt mua thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, sau khi thỏa thuận giá cả như trên, T gửi hàng cho H1 qua đường chuyển phát nhanh (các bị can không nhớ tên đơn vị vận chuyển), H1 thanh toán nhiều lần với tổng số tiền 26.580.000 đồng qua số tài khoản 19036855978011 của ngân hàng T9 mang tên Le Ngoc T2.
Ngày 23/6/2024, biết T bị bắt, Nguyễn Thị H ra đầu thú và khai nhận: Khoảng đầu năm 2022, do biết nhu cầu khách hàng mua các loại thuốc lá do nước ngoài sản xuất, H tìm kiếm nguồn mua thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất trên mạng xã hội thì được một người có nick zalo "Tuấn Kiệt" số điện thoại 0967.764.xxx giới thiệu cung cấp các loại mặt hàng thuốc lá điếu theo yêu cầu của khách hàng, sau này H mới biết người này tên thật là Lê Ngọc T. H dùng Zalo tên “Lê Gia N1” số điện thoại 0947.916.xxx trao đổi với T. Đến đầu tháng 6/2024, sau khi trao đổi bàn bạc và thống nhất buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu chung với Lê Ngọc T. Ngày 16/6/2024, Nguyễn Thị H liên hệ qua mạng xã hội Telegram với người đàn ông tên Đ1 nickname T3 “Thanh Dat Campuchia” và người tên V có số điện thoại 0932.898.xxx, 0862387411 không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể mua 27 (Hai mươi bảy) thùng thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất với mục đích bán kiếm lời. H thỏa thuận với Đ1, Vinh giá 15.000đ/bao thuốc lá và sẽ thanh toán tiền khi H bán được số thuốc lá này. Sau khi thỏa thuận với hai người đàn ông tự xưng tên Đ1, V thì H yêu cầu chuyển số thuốc lá trên đến địa chỉ G D, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh cho Lê Ngọc T.
Ngoài ra, Nguyễn Thị H còn khai nhận: Trước đó, H còn bán thuốc lá điếu nhập lậu nhưng không nhớ số lượng cho Bùi Thị Q, sinh năm 1983, trú tại A N, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Cơ quan điều tra đã làm việc với Q nhưng không thu giữ và xác định được số lượng thuốc lá điếu nhập lậu.
Để vận chuyển 27 thùng thuốc lá cho Lê Ngọc T thì V liên hệ và thuê Nguyễn Tấn Đ1 qua số điện thoại 0896.879.xxx nickname Zalo “AX” của Đ1 vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu này giao cho Lê Ngọc T theo địa chỉ V cung cấp. V gửi vị trí nhận 27 thùng thuốc lá điếu nhập lậu tại xã T, huyện T, tỉnh Long An cho Đ1. Hai bên thoả thuận trả tiền công vận chuyển là 350.000đ/thùng. Ngày 17/6/2024, Nguyễn Tấn Đ1 thuê xe ô tô qua mạng xã hội (Đ1 không nhớ nhãn hiệu, biển kiểm soát xe ô tô thuê) giao cho Mai Hồng H3 điều khiển đi đến xã T, huyện T, tỉnh Long An nhận 27 thùng thuốc lá chở đến địa chỉ G D, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh giao cho Lê Ngọc T, Đ1 trả công cho H3 50.000đ/thùng. Đ1 và H3 biết rõ hàng vận chuyển là thuốc lá điếu nhập lậu nhưng do lợi nhuận nên nhận vận chuyển. Tuy nhiên, do Đ1 chưa nhận được tiền công vận chuyển nên Đ1 chưa trả tiền công cho H3. Ngày 22/6/2024, Nguyễn Tấn Đ1 và Mai Hồng H3 ra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngoài lần vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu như trên, Nguyễn Tấn Đ1 còn khai nhận: Khoảng giữa tháng 6/2024, Nguyễn Quốc T4 thuê Đ1 vận chuyển 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá gồm: 01 (Một) thùng bên trong chứa đựng 500 bao thuốc lá vỏ màu trắng có chữ Trung Quốc hay gọi là “Rồng trắng” và 03 (Ba) thùng bên trong chứa đựng 1.500 bao thuốc lá có chữ Trung Quốc hay gọi là “906” với giá 300.000đ/thùng. Nguyễn Quốc T4 gửi 04 thùng thuốc lá bằng xe khách đến huyện Đ, tỉnh Long An cho Đ1, sau đó Đ1 gửi xe vận chuyển hàng B (Đ1 không nhớ tên nhà xe, biển kiểm soát xe) chở theo đường cao tốc đến nút giao Vực Vòng, tỉnh Hà Nam sẽ có người nhận hàng. Tuy nhiên, Đ1 chưa được hưởng lợi do thỏa thuận với T4 sẽ thanh toán khi gặp trực tiếp hoặc gộp nhiều lần lại sẽ thanh toán sau.
Ngoài ra, Nguyễn Tấn Đ1 còn khai nhận: Trước đó, Đ1 còn bán thuốc lá điếu nhập lậu nhưng không nhớ số lượng cho Nguyễn Hùng C1, sinh năm 1989, trú tại E T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Ngô Mạnh C2, sinh năm 1985, trú tại 6 Thái Bình, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Lê Xuân T5, sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Thị Mỹ H4, sinh năm 1986, trú tại 4 N, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Huỳnh Thế H5, sinh năm 1986, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Long An. Cơ quan điều tra đã làm việc với các đối tượng trên nhưng không thu giữ và xác định được số lượng thuốc lá điếu nhập lậu.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc T4 khai nhận: Khoảng tháng 5/2024, thông qua mạng xã hội T4 quen một người đàn ông sử dụng nickname Zalo tên “Chun” không biết họ tên, tuổi, địa chỉ (chỉ biết sinh sống tại C phu chia). Người này thuê T4 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với giá 500.000đ/thùng (Năm trăm nghìn đồng). T4 đồng ý và được cung cấp thông tin người nhận tên là T7, giao thuốc lá tại đường cao tốc đoạn nút giao V, tỉnh Hà Nam. T4 nhận 04 thùng giấy carton bên trong chứa đựng 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá tại khu vực bờ kênh thuộc địa phận xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Sau đó, T4 chuyển bằng xe khách về huyện Đ, tỉnh Long An (T4 không nhớ tên nhà xe, biển kiểm soát xe) và thuê Nguyễn Tấn Đ1 vận chuyển đến nút giao V, tỉnh Hà Nam giao cho T7. Sau khi nhận được thuốc lá, T7 thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 19034149085011 của ngân hàng T10 tên Trần Thị H6 (là vợ T7) đến số tài khoản 0000002475425 của ngân hàng M3 mang tên TRAN NGOC HUONG do Nguyễn Quốc T4 quản lý, sử dụng. Nhận được T6, T4 trả cho “Chun” 18.000.000 đồng, chưa thanh toán cho Nguyễn Tấn Đ1 1.200.000 đồng, T4 hưởng lợi 2.000.000 đồng.
Ngày 02/7/2024, Trần Ngọc T7 ra đầu thú và khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 06/2024 do có nhu cầu mua thuốc lá điếu của Trung Quốc để bán kiếm lời nên T7 tìm trên mạng xã hội và liên hệ với nickname Zalo tên "Chun", T7 không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Người này giới thiệu có nguồn hàng hóa là thuốc lá nước ngoài với nhiều loại khác nhau, T7 đặt mua 04 thùng giấy carton chứa 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá gồm: 01 (một) thùng loại vỏ màu trắng có chữ Trung Quốc hay gọi là "Rồng trắng" chứa 500 bao thuốc lá và 03 (ba) thùng thuốc lá vỏ có chữ Trung Quốc hay gọi là "906" chứa 1.500 bao thuốc lá với giá thoả thuận giá thuốc lá là 10.000đ/bao (Mười nghìn đồng) nhận hàng tại nút giao V, tỉnh Hà Nam, người này nói sẽ có nickname Zalo tên "Q1" chủ động liên hệ giao thuốc lá cho T7 và T7 thanh toán tiền cho nickname Zalo tên "Quốc" bằng hình thức chuyển khoản nhiều lần với tổng số tiền 20.000.000 đồng từ số tài khoản 19034149085011 của ngân hàng T10 tên Trần Thị H6 (là vợ T7) đến số tài khoản 0000002475425 của ngân hàng M3 mang tên TRAN NGOC HUONG do Nguyễn Quốc T4 quản lý, sử dụng. Sau khi nhận số thuốc lá trên chưa kịp tiêu thụ thì biết bị cơ quan Công an phát hiện nên ra đầu thú và giao nộp 04 thùng chứa 2.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu.
Ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T quyết định trưng cầu giám định số 2485/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu V1 Bộ C3 giám định mẫu trích từ 18.080 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất đã tạm giữ của Khương Anh D, Trịnh Thị H1, Lê Ngọc T. Tại bản kết luận giám định số 4701/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của V1 Bộ C3 (Bút lục 283; 292-293), kết luận:
- Căn cứ Khoản 1 và Khoản 5, Điều 7 Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 của Bộ C4 "quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà"; Khoản 6, Điều 3 "hàng hóa nhập lậu" của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam.
- Căn cứ Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/02/2013 của Bộ Y và Bộ C4 "Thông tư liên tịch hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuộc lá”; Điều 3 Thông tư số 23/2021/TT-BTC ngày 30/3/2021 của Bộ T11 "hướng dẫn về in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá": Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.
Ngày 03/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T quyết định trưng cầu giám định số 2683/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu V1 Bộ C3 giám định mẫu trích từ 2.000 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất đã tạm giữ của Trần Ngọc T7. Tại bản kết luận giám định số 5120/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của V1 Bộ C3 kết luận:
- Căn cứ Khoản 1 và Khoản 5, Điều 7 Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 của Bộ C4 "quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà"; Khoản 6, Điều 3 "hàng hóa nhập lậu" của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam.
- Căn cứ Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/02/2013 của Bộ Y và Bộ C4 "Thông tư liên tịch hướng dân việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuộc lá"; Điều 3 Thông tư số 23/2021/TT-BTC ngày 30/3/2021 của Bộ T11 "hướng dẫn về in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá”: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- 1.778 cây thuốc lá bằng 17.780 (Mười bảy nghìn bảy trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại còn lại sau trích mẫu giám định đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an thành phố T là vật chứng trong vụ án gồm:
- + 324 cây bằng 3.240 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “BLEND No. 555";
- + 36 cây bằng 360 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “ZEST MARULA”;
- + 53 cây bằng 530 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Chapman";
- + 180 cây bằng 1.800 bao thuốc lá điếu vỏ màu xanh lá in chữ nước ngoài;
- + 180 cây bằng 1.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “FILTERCIGARETTES”;
- + 225 cây bằng 2.250 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “YUXI”;
- + 450 cây bằng 4.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “CHUNGHWA”;
- + 170 cây bằng 1.700 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “YUHUASHI”;
- + 40 cây bằng 400 bao thuốc lá điếu loại vỏ màu trắng có chữ Trung Quốc hay gọi là “Rồng trắng”;
- + 120 cây bằng 1.200 bao thuốc lá điếu loại vỏ có chữ Trung Quốc hay gọi là "906".
- 01 (Một) điện thoại Iphone 12, số IMEI 352045133717784 đã qua sử dụng do Nguyễn Thị H giao nộp; 01 (Một) điện thoại Iphone 13 Promax, số IMEI 356942219737296 màu trắng đã qua sử dụng do Nguyễn Tấn Đ1 giao nộp; 01 (Một) điện thoại Iphone 13 Pro Max, số IMEI 351786561704643 màu bạc đã qua sử dụng do Trần Ngọc T7 giao nộp là công cụ phương tiện phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa ra Quyết định chuyển toàn bộ vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
- Chiếc xe ô tô Nguyễn Tấn Đ1 và Mai Hồng H3 sử dụng làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu do Nguyễn Tấn Đ1 thuê qua mạng xã hội của một người Đ1 không biết họ tên, tuổi, địa chỉ chủ phương tiện, không nhớ đặc điểm, biển kiểm soát xe ô tô. Sau khi vận chuyển 27 thùng thuốc lá xong, Đ1 trả lại cho chủ phương tiện nên không đủ căn cứ để thu giữ.
- Đối với người đàn ông có nickname T3 “Thanh Dat Campuchia”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã có công văn số 412B/CV-ĐCSKT-MT ngày 14/8/2024 gửi Sở thông tin và truyền thông tỉnh Thanh Hoá để xác định danh tính người dùng sử dụng nickname Telegram “Thanh Dat Camphuchia”. Ngày 20/8/2024 Sở thông tin và truyền thông tỉnh T có công văn phúc đáp số 1994/STTTT-Ttra trả lời: Mạng xã hội Telegram không thuộc quản lý của Việt Nam; các tài khoản mạng xã hội thường xuyên có thể thay đổi về hình ảnh giao diện hoặc trùng tên. Vì vậy không xác định được danh tính người sử dụng nickname Telegram “Thanh Dat Campuchia” nên không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với người đàn ông tên V sử dụng số điện thoại 0932.898.xxx, 0862387411. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác minh tại Công ty cổ phần M4 - Chi nhánh Tổng công ty V2 là nhà mạng sở hữu thuê bao 0932898392, thì thông tin đăng ký người dùng là Trần Thị Vân A1, sinh năm 1998, trú tại ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Tiến hành làm việc, chị Vân A1 xác nhận không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0932.898.xxx và cũng không bán, không cho ai mượn thông tin cá nhân để đăng ký, sử dụng số điện thoại trên nên không có căn cứ để xử lý. Xác minh tại Tập đoàn C5 là nhà mạng sở hữu thuê bao 0862387411, thì thông tin đăng ký người dùng là Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1981, trú tại phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tiến hành làm việc, anh Q2 xác nhận không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0862.387.xxx và cũng không bán, không cho ai mượn thông tin cá nhân để đăng ký, sử dụng số điện thoại trên. Vì vậy không xác định được danh tính của người đàn ông tên V nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với các đối tượng bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Lê Ngọc T qua mạng xã hội và Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978, trú tại ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được số lượng thuốc lá điếu nhập lậu đã mua bán, không thu giữ được vật chứng. Vì vậy, không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với người đàn ông có nickname Zalo “Được và M1”; Z “Chun”. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã áp dụng hết các biện pháp điều tra nhưng không thu thập được số điện thoại, danh thiếp, mã QR của các nickname Zalo trên. Vì vậy, không xác định được danh tính người sử dụng nên không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với các đối tượng mua thuốc lá điếu nhập lậu của Nguyễn Thị H, Nguyễn Tấn Đ1 gồm: Bùi Thị Q; Nguyễn Hùng C1; Ngô Mạnh C2; Lê Xuân T5; Nguyễn Thị Mỹ H4; Huỳnh Thế H5. Cơ quan điều tra không xác định được số lượng thuốc lá điếu nhập lậu đã mua bán, không thu giữ được vật chứng. Vì vậy, không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với chị Trần Ngọc H7 là chủ số tài khoản 0000002475425 ngân hàng M5 (là tài khoản Nguyễn Quốc T4 quản lý, sử dụng để Trần Ngọc T7 chuyển khoản tiền mua thuốc lá điếu nhập lậu). Tuy nhiên, H7 không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì, không liên lạc được. Mặt khác, T4 khai báo mượn tài khoản trên để quản lý, sử dụng nên không đủ căn cứ để xử lý.
- Đối với chị Trần Thị H6 người sử dụng số tài khoản 19034149085011 ngân hàng T10 (là vợ của Trần Ngọc T7) để chuyển tiền mua thuốc lá. Quá trình thực hiện giao dịch, chị H6 không biết Trần Ngọc T7 nhờ chuyển tiền để mua thuốc lá điếu nhập lậu, Trần Ngọc T7 cũng không trao đổi nội dung mua thuốc lá điếu nhập lậu cho chị H6 biết. Vì vậy, không đủ căn cứ để xử lý.
Bản án số 45/2024/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
- Căn cứ: Điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS (đối với Lê Ngọc T).
Điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS (đối với Nguyễn Thị H).
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Ngọc T và Nguyễn Thị H phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
- Xử phạt: 1. Bị cáo Lê Ngọc T 10 (M2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2024.
2. Bị cáo Nguyễn Thị H 08 năm 03 (Tám năm ba tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2024.
Bản án còn xử phạt các bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 05 năm 06 tháng tù; Mai Hồng H3 05 năm 03 tháng tù; Nguyễn Quốc T4 07 (Bảy) tháng tù; Khương A Du 30 tù nhưng cho hưởng án treo; Trần Ngọc T7 24 tù nhưng cho hưởng án treo; Trịnh Thị H1 18 tù nhưng cho hưởng án treo.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Trong các ngày 25, 30, 31/12/2024, các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Tấn Đ1, Mai Hồng H3 và Lê Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 28/02/2025, các bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 và Mai Hồng H3 rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã đình chỉ xét xử phúc phẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Lê Ngọc T và Nguyễn Thị Hồng G nguyên nội dung kháng cáo.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Ngọc T và Nguyễn Thị H, giữ nguyên hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm, theo đó bị cáo T là 10 năm tù, bị cáo H 08 năm 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, Các bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Ngọc T kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Ngày 16/6/2024, Nguyễn Thị H liên lạc qua mạng xã hội T3 với người đàn ông tên Đ1 nickname T3 “T Campuchia” và người tên V (không xác định được họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể) để mua 27 (Hai mươi bảy) thùng thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất bằng 13.500 bao với giá 15.000đ/ bao thuốc lá, mục đích để bán kiếm lời. H chưa thanh toán tiền và yêu cầu chuyển số thuốc lá trên cho Lê Ngọc T quản lý, nếu có khách mua, H sẽ cung cấp địa chỉ để T đóng gói gửi đi, nếu tiêu thụ được, mỗi thùng thuốc lá H trả cho T 450.000đ/thùng. Khi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện thu giữ.
Lê Ngọc T buôn bán chung với Nguyễn Thị H 13.500 (Mười ba nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu. Ngoài ra, một mình T bán riêng cho Khương A Du 2.980 (Hai nghìn chín trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu với giá 10.000 đồng/bao bằng 29.800.000 đồng, bán cho Trịnh Thị H1 1.600 (Một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu với giá 9.000 đồng và 30.000 đồng/ bao với tổng số tiền là 26.580.000 đồng, sau khi trả tiền mua thuốc lá, T thu lời số tiền 24.320.000₫ (Hai mươi tư triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
Khương Anh D mua của Lê Ngọc T 2.980 (Hai nghìn chín trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu; Trịnh Thị H1 mua của Lê Ngọc T 1.600 (Một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu với mục đích bán kiếm lời. Khi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện thu giữ.
Trần Ngọc T7 mua qua mạng xã hội với nickname Zalo tên "Chun", (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ) 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu với mục đích bán kiếm lời. Khi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện thu giữ.
Nguyễn Tấn Đ1 nhận vận chuyển cho người tên là V (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ) 27 thùng giấy carton chứa 13.500 (Mười ba nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu với giá 350.000đ/thùng. Sau đó, Đ1 thuê Mai Hồng H3 vận chuyển giao cho Lê Ngọc T với giá 50.000đ/thùng. Tuy nhiên, do Đ1 chưa nhận được tiền công vận chuyển nên Đ1 chưa trả tiền công cho H3. Ngoài ra, Đ1 còn vận chuyển cho Nguyễn Quốc T4 04 thùng giấy carton chứa 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu giao cho Trần Ngọc T7 với giá 300.000 đồng/thùng, Đ1 chưa nhận tiền công vận chuyển 1.200.000 đồng.
Nguyễn Quốc T4 được người có nickname Zalo tên "Chun" (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ) thuê vận chuyển 04 thùng giấy carton chứa 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu giao cho Trần Ngọc T7 tại nút giao V, tỉnh Hà Nam với giá 500.000 đồng/thùng. T4 thuê Nguyễn Tấn Đ1 vận chuyển với giá 300.000 đồng/thùng nhưng chưa kịp thanh toán, T4 hưởng lợi 2.000.000 đồng.
Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc T và Nguyễn Thị H phạm tội: “Buôn bán hàng cấm” theo Điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm; xâm hại đến nền kinh tế quốc dân, gây mất trật tự trị an chung.
Khi quyết định hình phạt Bản án sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng TNHS đối với bị cáo Lê Ngọc T là phạm tội 2 lần trở lên; căn cứ điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với 02 bị cáo là thành khẩn khai báo. Ngoài ra, Bị cáo T có ông ngoại là Liệt sỹ và có người có công với cách mạng. Bị cáo H ủng hộ hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ người nghèo theo Chỉ thị 22 - CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hóa, Bị cáo H đầu thú; căn cứ khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Tại giai đoạn phúc thẩm, Bị cáo T và bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đó là: Bị cáo T nộp thêm các tài liệu gồm Thư cảm ơn của Mặt trận tổ quốc phường P, thành phố T về việc T ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 1.000.000 đồng; Đơn xin xác nhận có xác nhận của chính quyền địa phương về việc gia đình bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo (có bệnh án kèm theo). Bị cáo Nguyễn Thị H nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí HSST; Thư cảm ơn của Hội khuyến học phường Đ, thành phố T và Thư cảm ơn của Mặt trận tổ quốc phường P, thành phố T về việc gia đình H ủng hộ quỹ Hội khuyến học số tiền 2.000.000 đồng, ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 1.000.000 đồng; Giấy nhận xét cá nhân Nguyễn Thị H của Công ty cổ phần M6 về việc chấp hành tốt chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong, lề lối làm việc. Tuy nhiên, các bị cáo buôn bán số lượng thuốc lá lớn, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 10 năm tù; bị cáo Nguyễn Thị H 08 năm 03 tháng tù là có phần giảm nhẹ hình phạt nên không có căn cứ giảm hình phạt cho các bị cáo, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.
[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5]. Án phí HSPT: Kháng cáo của các bị cáo Lê Ngọc T và Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của BLTTHS. Điểm b khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Ngọc T và Nguyễn Thị H. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
Căn cứ: Điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS (đối với Lê Ngọc T).
Điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS (đối với Nguyễn Thị H).
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Ngọc T, Nguyễn Thị H phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
- Xử phạt:
- Bị cáo Lê Ngọc T 10 (M2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2024.
- Bị cáo Nguyễn Thị H 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2024.
Về hình phạt bổ sung và án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thị H đã nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí HSST số tiền 20.200.000 đồng theo Biên lai số 862 ngày 16/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá.
- Án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Lê Ngọc T; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
Bản án số 30/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 30/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội buôn bán hàng cấm
