TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 30/2025/HNGÐST
Ngày 11-4-2025
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Động
- Ông Trương Văn Sắc
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trùng Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2025/TLST–HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST–HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lương Thị Mộng Đ – sinh năm 2000
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Nguyễn Minh D – sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
(Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt)
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Vũ Thị D1 – sinh năm 1966
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang
Anh Nguyễn Chí C – sinh năm 1984
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang
(Bà D1, anh C mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lương Thị Mộng Đ trình bày:
Chị và anh D chung sống với nhau năm 2015 không có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang vào ngày 25/7/2018, số 119. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D ăn chơi, rượu chè, đánh nhau, không có trách nhiệm với vợ con, đánh người gây thương tích, hiện nay đang thụ án tại trại giam T1. Vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay.
Về con chung: Chị Đ xác nhận vợ chồng chung sống với nhau được 02 con chung là Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016 và Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018. Các cháu đã có giấy khai sinh và hiện đang sống chung với bà nội.
Về tài sản chung, nợ chung: chị Đ xác nhận không có.
Tại phiên tòa chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.
Về quan hệ con chung: Chị Đ đồng ý để 2 con tên Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016; Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018 cho anh Nguyễn Minh D trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo biên bản lấy lời khai ngày 05/3/2025 của Tòa án thì bị đơn anh Nguyễn Minh D trình bày: Anh và chị Đ chung sống với nhau vào ngày 01/01/2015, được UBND xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/07/2018. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì anh thống nhất với lời trình bày của chị Đ.
Về con chung: Có 02 người con chung là Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016 và Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018. Hiện nay mẹ và anh trai anh là bà Vũ Thị D1, anh Nguyễn Chí C đang nuôi.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh D xác nhận không có.
Nay anh D yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Đ.
Về con chung: Anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 người con chung là Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016 và Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018. Anh nuôi con anh không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị D1, anh Nguyễn Chí C trình bày:
Bà D1, anh C xác nhận là từ ngày anh Nguyễn Minh D đi chấp hành án tới nay bà D1, anh C là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016; Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018. Nay bà D1, anh C không yêu cầu gì trong vụ kiện này.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- + Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- + Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- + Bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, không tham gia phiên hòa giải, phiên họp kiểm trả việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án tại phiên tòa và không chấp hành nội quy phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị Mộng Đ.
- + Về quan hệ con chung: Đề nghị tiếp tục giao hai cháu là Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016 và Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018 cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng.
Chị Đ được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ, anh D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị miễn xét.
- + Về án phí hôn nhân gia đình sơ thầm: Chị Đ phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Mộng Đ được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp.
Bị đơn anh Nguyễn Minh D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị D1, anh Nguyễn Chí C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh D, bà D1, anh C vắng mặt có lý do. Ngoài ra, tại phiên tòa chị Đ yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D, bà D1, anh C nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt anh Nguyễn Minh D, bà Vũ Thị D1, anh Nguyễn Chí C.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị Mộng Đ và yêu cầu nuôi con của anh D, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Đ và anh D chung sống với nhau được UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/7/2018 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đ: Trong quá trình vợ chồng anh chị chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do do anh D ăn chơi, rượu chè, đánh nhau, không có trách nhiệm với vợ con, đánh người gây thương tích, từ đó vợ chồng lời qua tiếng lại và vợ chồng thường hay cự cãi dẫn đến không hạnh phúc và vợ chồng ly thân từ năm 2018 cho đến nay.
Xét thấy: Anh D, chị Đ chung sống với nhau bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018 cả hai đã tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn chung sống lại với nhau nhưng không thành, mặt khác theo biên bản lấy lời khai của Tòa án thì anh D cũng đồng ý ly hôn với chị Đ, từ đó cho thấy vợ chồng anh D, chị Đ đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian khá dài; ngoài ra, chị Đ và anh D đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh D là có cơ sở chấp nhận.
[2] Về quan hệ con chung: Xét yêu cầu của anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 người con chung là Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016 và Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018, xét thấy theo biên bản tiếp xúc, ghi nhận nguyện vọng của cháu Bảo T thì nguyện vọng của cháu muốn được ở với cha là anh D, ngoài ra từ khi ly thân cho đến nay anh D và gia đình vẫn nuôi hai cháu và vẫn đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của 02 cháu; Đồng thời chị Đ cũng đồng ý để anh D tiếp tục nuôi hai cháu Bảo T và Đức D2. Do đó, yêu cầu của anh Nguyễn Minh D là có cơ sở chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Anh D nuôi hai người con anh không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ, anh D xác nhận không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét
[4] Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị Lương Thị Mộng Đ.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lương Thị Mộng Đ phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 175, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lương Thị Mộng Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Mộng Đ được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao hai con tên Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 10/11/2016; Nguyễn Đức D2, sinh ngày 07/05/2018 cho anh Nguyễn Minh D trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Đ được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ, anh D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và cấp dưỡng: Chị Đ phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007208, ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh D, bà Vũ Thị D1, anh Nguyễn Chí C có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Minh Đạo |
Bản án số 30/2025/HNGÐST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn
- Số bản án: 30/2025/HNGÐST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
