TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ - ST
Ngày 29 tháng 10 năm 2025
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Quang Dự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hưng và Bà Nguyễn Thị Minh Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 95/2025/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 23/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 16/9/2025; giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Th, sinh ngày 06/12/1989; Có mặt
Căn cước số: 0171890018xx; cấp ngày 25/4/2021
Nơi cư trú: Xóm M, xã Hợp K, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Dư Thanh H, sinh ngày 29/9/1988; Vắng mặt
Căn cước số: Không có
Nơi cư trú: Xóm M, xã Hợp K, tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị Th trình bày và yêu cầu như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Dư Thanh H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/8/2010 trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã đánh nhau, không tìm được tiếng nói chung đến nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Dư Thanh H.
- Về con chung: Có 02 con chung Dư Tường V, sinh ngày 09/6/2011; Dư Khánh A, sinh ngày 02/8/2015, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi con, chưa yêu cầu anh Dư Thanh H cấp dưỡng nuôi.
- Tài sản công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với anh Dư Thanh H:
- Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh Dư Thanh H hợp lệ, nhưng anh không có ý kiến gì về việc chị Bùi Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh; ý kiến về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; ý kiến về tài sản chung, công nợ chung.
Tại phiên tòa chị Bùi Thị Th giữ nguyên các yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.
Anh Dư Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã đảm bảo được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71; đối với bị đơn không tuân theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị Th. Xử cho chị Bùi Thị Th được ly hôn anh Dư Thanh H; Về con chung: Có 02 con chung Dư Tường V, sinh ngày 09/6/2011; Dư Khánh A, sinh ngày 02/8/2015, ý kiến của 02 cháu, nếu bố mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng sinh sống cùng chị Th, xét thấy ý kiến của các bên là có căn cứ đề nghị HĐXX chấp nhận ý kiến của chị Th cùng các con của chị, giao 02 con chung cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác; Về tài sản, công nợ chung: Không có nên không đề cập; Về án phí chị Bùi Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. HĐXX nhận định như sau:
[1] Căn cứ áp dụng luật Tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, bị đơn là anh Dư Thanh H hiện đang cư trú tại xã Hợp K, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 13, tỉnh Phú Thọ, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn, anh Dư Thanh H đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 vắng mặt không có lý do. HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Căn cứ áp dụng luật nội dung: Quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn hợp pháp, nên áp dụng Luật Hôn và nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.
[3] Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
+ Đối với yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Th: Sau kết hôn năm 2010 trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã đánh chửi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, hai bên không tìm được tiếng nói chung, đến nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Chị Th thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Dư Thanh H.
+ Đối với anh Dư Thanh H: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh H hợp lệ, nhưng anh không có ý kiến gì về việc chị Bùi Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh; ý kiến về người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn; ý kiến về tài sản chung, công nợ chung.
Kết quả xác minh tại nơi cư trú, vợ chồng anh, chị mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì đoàn thể nơi cư trú không biết, do anh chị không đề nghị đoàn thể hòa giải, xác minh người thân mẹ chị Th nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Th và anh H cụ thể như thế nào thì bà không biết, chỉ biết hai vợ chồng hay cãi nhau, chị Th nói nhiều lần bị anh H đánh.
Tại phiên Tòa chị Bùi Thị Th vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn anh Dư Thanh H. HĐXX nhận thấy theo lời trình bày của chị thì mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, không thể khắc phục, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được, có hành vi bạo lực gia đình. Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Th là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của chị Th, xử cho chị Bùi Thị Th được ly hôn anh Dư Thanh H, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung Dư Tường V, sinh ngày 09/6/2011; Dư Khánh A, sinh ngày 02/8/2015 sau khi ly hôn chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, ý kiến của 02 cháu, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sinh sống cùng chị Th. HĐXX xét thấy ý kiến và yêu cầu của các bên là phù hợp, nên chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Th, giao 02 con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các bên có yêu cầu mới, theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu câu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4] Về án phí: Chị Bùi Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Th.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Th được ly hôn anh Dư Thanh H.
- Về con chung: Xác nhận có 02 con chung. Giao 02 con Dư Tường V, sinh ngày 09/6/2011 và Dư Khánh A, sinh ngày 02/8/2015 cho chị Bùi Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi 02 con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác, chị Th chưa yêu cầu anh Dư Thanh H cấp dưỡng nuôi con; anh Hồng có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.
- Tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Án phí: Chị Bùi Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0003480 ngày 16/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Phú Thọ).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Quang Dự |
Bản án số 30/2025/HNGĐ - ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Bùi Thị Th ly hôn anh Dư Thanh H
