|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28-11-2025
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Bùi Văn Thiệu
- Ông: Bùi Văn Ơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Thế Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ. Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QÐST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ - Có mặt tại phiên toà;
- Bị đơn: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1985. Nơi cư trú: xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày: Chị và anh Bùi Văn C đăng ký kết hôn ngày 16/11/2006 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã M, tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống chung hạnh phúc. Nhưng từ năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung nên đã ly thân từ năm 2020 và không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị Bùi Thị H yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Bùi Văn C.
Về con chung: Chị H và anh C có 02 con chung là Bùi Thị Hồng V, sinh ngày 20/07/2007 và Bùi Thị Vân A, sinh ngày 02/07/2011. Con chung Bùi Thị Hồng V hiện đã trưởng thành hiện đã trưởng thành, có công việc và thu nhập ổn định, đã đi xây dựng gia đình, do đó chị H không yêu cầu giải quyết vấn đề nuôi dưỡng và cấp dưỡng con chung sau ly hôn. Đối với con chung Bùi Thị Vân A, hiện nay đang sống cùng anh C. Sau khi ly hôn chị H đề nghị giao con chung Bùi Thị Vân A cho anh C được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; chị H sẽ cấp dưỡng nuôi con chung khi anh C có yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn Bùi Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh về sự có, vắng mặt tại nơi cư trú của anh C thể hiện anh C có địa chỉ rõ ràng; có đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú tại xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ nhưng không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án, do vậy Toà án không lấy được ý kiến của anh Bùi Văn C. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét.
Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 16/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ tại chính quyền địa phương nơi chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn C chung sống thể hiện: Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn C kết hôn năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã M, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, nên đã sống ly thân.
Quá trình giải quyết, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, do đó vụ án không tiến hành hòa giải được. Bị đơn anh Bùi Văn C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Tại phiên tòa, chị Bùi Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa, kiểm sát viên Đinh Thế T phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều diễn ra theo đúng trình tự, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn C không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị H.
Về con chung: Xét yêu cầu của chị H và nguyện vọng của cháu Bùi Thị Vân A là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83; 84 Luật HN&GĐ năm 2014 nên đề nghị HĐXX chấp nhận giao con chung Bùi Thị Vân A cho anh Bùi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Về án phí: Nguyên đơn Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn Bùi Văn C có hộ khẩu thường trú và cư trú tại xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản cho các bên đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tuy nhiên nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án, nên đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự. Phiên tòa xét xử đã phải hoãn một lần do bị đơn Bùi Văn C vắng mặt không có lý do, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên toà hôm nay anh C tiếp tục vắng mặt; chị H vẫn kiên quyết xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về vấn đề nuôi con chung, chị H đồng ý giải quyết vắng mặt anh C. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Văn C theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị H và anh C không có hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung nên đã sống ly thân, không còn tình cảm vợ chồng. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị H và anh C có 02 con chung là Bùi Thị Hồng V, sinh ngày 20/07/2007 và Bùi Thị Vân A, sinh ngày 02/07/2011. Con chung Bùi Thị Hồng V hiện đã trưởng thành, hiện đã trưởng thành, có công việc và thu nhập ổn định; đối với con chung Bùi Thị Vân A có nguyện vọng được C trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy anh C có chỗ ở ổn định, có đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung cần chấp nhận yêu cầu của chị H và nguyện vọng của con chung, giao con chung Bùi Thị Vân A cho anh Bùi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng kể từ từ ngày 28/11/2025 trở đi cho đến khi đủ 18 tuổi, hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh C không đến Tòa án để bảo vệ cho quyền lợi của mình. Do đó HĐXX chưa xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án, nếu anh C có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung sẽ được xem xét trong một vụ án khác.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án.
[5] Án phí: Nguyên đơn Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H về việc xin ly hôn; cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn C.
- Về con chung: Giao con chung Bùi Thị Vân A, sinh ngày 02/07/2011 cho anh Bùi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng kể từ ngày 28/11/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Bùi Thị H chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Đối với con chung Bùi Thị Hồng V, sinh ngày 20/07/2007 hiện đã trưởng thành, có công việc và thu nhập ổn định. Nguyên đơn Bùi Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Nguyên đơn Bùi Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn Bùi Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002607 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ, nay không phải nộp thêm nữa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai, tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Minh Giang |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị H ly hôn anh Bùi Văn C
