|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 27/11/2025
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Xuyên
Bà Lê Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp về ly hôn, nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QÐST- HNGĐ ngày 12/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT: Khu phố T, phường H, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: 73C/4, Khu phố A, Phường H, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Phạm Đức S, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm L, xã K, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện; bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày như sau:
Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Phạm Đức S vào ngày 09/6/2010 do hai bên tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2013 thì mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng không tôn trọng nhau, anh S không chung thuỷ. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2015 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng là không còn chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Đức S.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Yến N, sinh ngày 18/6/2010 và Phạm Thị Thu H, sinh ngày 02/7/2012. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì hai người con sống với chị tại địa chỉ: G, Khu phố A, Phường T, Thành Phố B, tỉnh Đồng Nai (Nay là Phường H, tỉnh Đồng Nai), các con học tập, sinh sống và phát triển bình thường. Chị Nguyễn Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi hai người con và không yêu cầu anh Nguyễn Đức S1 cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản và nợ: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Đức S có ý kiến:
Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T vào ngày 09/6/2010 do hai bên tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Sau kết hôn vợ chồng sống chung tại Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đến năm 2015 thì anh bị tai nạn giao thông phải điều trị tại bệnh viện, chị Nguyễn Thị T đã để anh lại bệnh viện và bỏ đi từ đó đến nay. Từ năm 2015 vợ chồng sôngs ly thân, không liên lạc với nhau, anh về sinh sống tại địa phương xóm D, xã T, huyện T (Xóm L, xã K, tỉnh Nghệ An).Tình cảm vợ chồng là không còn nữa anh Phạm Đức S đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Yến N, sinh ngày 18/6/2010 và Phạm Thị Thu H, sinh ngày 02/7/2012. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì hai người con sống với chị Nguyễn Thị T cho đến nay. Anh Phạm Đức S đồng ý giao cả hai người con cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về chia tài sản và nợ: Anh Phạm Đức S không yêu cầu Toà án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn; bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Đức S.
Về nuôi con chung: Giao các con chung là Phạm Thị Yến N, sinh ngày 18/6/2010 và Phạm Thị Thu H, sinh ngày 02/7/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phạm Đức S.
Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Đức S là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 09/6/2010. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến đầu năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp và vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2015 cho đến nay. Chị Nguyễn Thị T xin ly hôn thì anh Phạm Đức S đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Đức S chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, xử cho chị được ly hôn với anh Phạm Đức S là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3]Về nuôi con chung:Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Yến N, sinh ngày 18/6/2010 và Phạm Thị Thu H, sinh ngày 02/7/2012.
Ý kiến chị Nguyễn Thị T là yêu cầu được trực tiếp nuôi hai người con và không yêu cầu anh Phạm Đức S cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến anh Phạm Đức S là đồng ý giao cả hai người con cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Nguyện vọng của các cháu Phạm Thị Yến N và Phạm Thị Thu H là được ở với mẹ Nguyễn Thị T.
Xét thấy hiện tại các cháu Phạm Thị Yến N và Phạm Thị Thu H đang ở với chị Nguyễn Thị T tại địa chỉ: G, Khu phố A, Phường H, tỉnh Đồng Nai, do đó ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phạm Đức S là đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con; phù hợp với nguyện vọng của con, đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Đức S.
Về nuôi con chung: Giao các con chung là Phạm Thị Yến N, sinh ngày 18/6/2010 và Phạm Thị Thu H, sinh ngày 02/7/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phạm Đức S.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E, SỐ 0001875 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Dũng |
Bản án số 30/2025/HNGĐ - ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa chị T và anh S
