|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Huy Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Thanh Huyền và bà Phạm Thị Dung.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 22-4-2025 về “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 10-6-2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: chị Bùi Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ A, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
*Bị đơn : anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1986. Nơi ĐKHKTT: tổ A, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ : T, Thị trấn N, Huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Phân trại số 4); vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 21-3-2025 và các lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Bùi Thị H, đều có lời khai thể hiện:
Chị Bùi Thị H kết hôn tự nguyện với anh Nguyễn Duy T năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn là một năm. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại tổ A, khu L, phường P, thành phố U cùng mẹ chồng. Quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh T mải chơi thường xuyên giao du với bạn bè xấu, không quan tâm chăm sóc đến gia đình mâu thuẫn xảy ra đỉnh điểm vào tháng 9 năm 2024. Vợ chồng xảy ra to tiếng, anh T có đánh đập vợ và được hàng xóm can ngăn. Tiếp đến ngày 05-9-2024 anh T vi phạm pháp luật và bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 16-12-2024, anh T bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và hiện đang chấp hành án tại Thanh Hóa. Nay, chị H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh T không thể khắc phục. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T.
Về con chung: chị H trình bày trong quá trình chung sống chị H và anh T không có con chung.
Về tài sản chung, vay nợ chung: chị H xác nhận không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai của anh Nguyễn Duy T là bị đơn trong vụ án (hiện đang chấp hành án tại tại Đội 31, P, Trại giam T1) có lời khai thể hiện:
Anh T đang thi hành án tại Trại giam T1 từ ngày 21-3-2025 theo Bản án số 101/2024/HSST ngày 16-12-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Về quan hệ hôn nhân: anh T và chị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P trên tinh thần tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại gia đình nhà anh T tại phường P, thành phố U. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 9 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T vi phạm pháp luật. Nay, chị H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho ly hôn, anh T không có ý kiến gì.
Về con chung: anh T và chị H không có con chung.
Về tài sản chung, vay nợ chung: anh T và chị H không có tài sản chung, không nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.
Tại biên bản xác minh ngày 20-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - ông Nguyễn Xuân Q (trưởng khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh), ông Q cung cấp sự việc:
Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Duy T là công dân có đăng ký thường trú tại tổ A, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Chị H và anh T có đăng ký kết hôn năm 2020. Quá trình vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Khoảng tháng 9/2024 cho đến nay anh T vi phạm pháp luật và đi chấp hành án về tội mua bán trái phép chất ma túy. Cũng khoảng từ tháng 9/2024 đến nay chị Bùi Thị H (vợ anh T) không còn sinh sống tại địa chỉ tổ A, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, quá trình chung sống chị H và anh T chưa có con chung. Nay, chị H đề nghị xin ly hôn anh T ông Q đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định khi thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp và tư cách của những người tham gia tố tụng. Hoạt động giải quyết của Thẩm phán đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân theo đúng và đầy đủ quy định về pháp luật tố tụng dân sự khi xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn cơ bản thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị H đối với anh Nguyễn Duy T. Về con chung, tài sản chung: do không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị Bùi Thị H khởi kiện về việc ly hôn với anh Nguyễn Duy T và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án theo quy định. Bị đơn anh Nguyễn Duy T có nơi thường trú tại tổ A, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1, Thanh Hóa). Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa hôm nay, chị H và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh T là phù hợp với khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: chị H và anh T kết hôn từ năm 2020 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy, để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tin tưởng nhau cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị H gửi đơn xin ly hôn anh T, anh T đã được biết quan điểm chị H muốn ly hôn nhưng quan điểm của anh T là không có ý kiến gì. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: chị H và anh T chưa có con chung.
[3] Về tài sản chung và khoản vay nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: chị H phải chịu án phí dân sự tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị H về việc xin ly hôn anh Nguyễn Duy T.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Duy T.
- Về án phí: chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002911 ngày 22-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc sau 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ H- T