|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-05 - 2025 V/v: Ly hôn, con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lục Văn Khai và ông Hà Quốc Trung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phượng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái tham
gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 19/2025/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc "Ly hôn, con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 04 năm 2025, Thông báo mở lại phiên toà số 21/TB-TA ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đoàn Ngọc H, sinh năm 1986; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
- - Bị đơn: Anh Hà Văn C, sinh năm 1984; được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai vẫn vắng mặt, không có lý do.
Các đương sự đều cư trú tại thôn L, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 14-02- 2025 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Đoàn Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Hà Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 09 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn, vợ, chồng chung sống bình thường, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, mấy năm gần đây mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống. Anh Hà Văn C thường xuyên rược chè, cờ bạc, vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Chúng tôi tự hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chúng tôi sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay tôi xác định tình cảm vợ, chồng không còn. Đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Hà Văn C;
Về con chung: Vợ chồng tôi có hai con chung là: H, sinh ngày 29-09-2009; Hà Anh T, sinh ngày 03-11-2011. Kể từ khi sống ly thân các cháu ở với anh Hà Văn C. Khi ly hôn, tôi có nguyện vong giao cả hai con cho anh Hà Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, vì hiện nay tôi đang đi làm thuê nên chưa có nơi ở ổn định.
Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 24-02-2025, bị đơn là anh Hà Văn C trình bày:
-Việc kết hôn như chị Đoàn Ngọc H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống bình thường. Thời gian gần đây xảy ra mâu thuẫn trầm trọng hơn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không ai nghe ai. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Tôi đồng ý ly hôn chị Đoàn Ngọc H.
Về con chung: Chúng tôi có hai con chung như chị H trình bày là đúng. Kể từ khi sống ly thân, hai cháu do tôi trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Vê tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.
* Cháu Hà Thái A và cháu Hà Anh T đều có nguyện vọng ở với bố vì mẹ chưa có chỗ ở ổn định.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được bảo đảm đúng quy định pháp luật, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 và các điều 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 7 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử cho chị Đoàn Ngọc H được ly hôn anh Hà Văn C; giao cho anh Hà Văn C trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Chị Đoàn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Đoàn Ngọc H và anh Hà Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Hà Văn C có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Đoàn Ngọc H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình. Chị Đoàn Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hà Văn C được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên Toà án xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Ngọc H và anh Hà Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để chị Đoàn Ngọc H về đoàn tụ với anh Hà Văn C, cùng nhau nuôi dạy con chung, nhưng chị Đoàn Ngọc H kiên quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không bảo ban được nhau, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung; vợ, chồng đã sống ly thân, đời sống chung không còn, không đạt được mục đích của hôn nhân, anh Hà Văn C không có mặt để hoà giải và cũng đồng ý ly hôn, vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Ngọc H là có căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần được chấp nhận.
[3] Về nuôi con chung:
Do chị Đoàn Ngọc H và anh Hà Văn C đều có ý kiến để anh Hà Văn C trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con phù hợp với nguyện vọng của các cháu và hoàn cảnh thực tế của các bên.
Vì vậy cần chấp nhận đề nghị của chị Đoàn Ngọc H, giao cho anh Hà Văn C trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con.
Về cấp dưỡng nuôi con do anh Hà Văn C không có ý kiến nên không xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đoàn Ngọc H và anh Hà Văn C không yêu cầu giải quyết, anh Hà Văn C không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.
[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tế, khách quan của các đương sự nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị Đoàn Ngọc H và anh Hà Văn C thống nhất ly hôn trước khi mở phiên toà nên mỗi bên đương sự phải chịu 25% mức án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 75.000 đ (bảy mươi lăm nghìn đồng).
[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; các điều 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 7 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đoàn Ngọc H được ly hôn anh Hà Văn C.
2. Về con chung:
Giao cho anh Hà Văn C trực tiếp nuôi dưỡng hai con là: H, sinh ngày 29-09-2009; Hà Anh T, sinh ngày 03-11-2011.
Chị Đoàn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3.Về án phí:
- - Anh Hà Văn C phải chịu 75.000 đ ( Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
- - Chị Đoàn Ngọc H phải chịu 75.000. đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2024/0000395 ngày 14-02- 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; chị Đoàn Ngọc H được trả lại 225.000 đ (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh |
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, con chung
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
