Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26-5-2025

“V/v ly hôn giữa chị Lý- anh Mạnh”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Gia Khải;
    2. Bà Nguyễn Thị Đoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐ-HPT ngày 14/5/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1988.
  • Nơi cư trú: Thôn E, xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bị đơn: Anh Đoàn Văn M, sinh năm 1987.
  • Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
  • (Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh M)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai, tại phiên tòa nguyên đơn là chị Trịnh Thị L trình bày: Chị L và anh Đoàn Văn M tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 24/02/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã Q, sau đó đi lao động tự do. Quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tháng 02/2023 chị L đã trở về gia đình bố mẹ đẻ tại Thanh Hóa sinh sống và sống ly thân với anh M cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L đề nghị xin được ly hôn anh M.

Về con chung: Chị L khai vợ chồng có 02 con chung là Đoàn Trịnh Phương A, sinh ngày 01/01/2012 và Đoàn Trịnh Phương T, sinh ngày 29/10/2014, hai con chung hiện do anh M đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn xảy ra chị L đề nghị để anh M được nuôi dưỡng 02 con chung, chị nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/1 con/1 tháng.

Về tài sản chung: Chị L khai vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Đoàn Văn M: Tại biên bản ghi lời khai anh M trình bày. Về quan hệ hôn nhân anh M xác nhận lời khai của chị L về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống của vợ chồng như chị L đã trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn anh M cho rằng do chị L quan hệ nam nữ bất chính đã dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nhưng anh không đưa ra được căn cứ chứng minh. Năm 2023 anh không nhớ rõ ngày tháng, chị lý đã tự ý trở về quê tại tỉnh Thanh Hóa sinh sống và sống ly thân, anh có đi tìm nhưng chị L không trở về đoàn tụ. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh đề nghị xin được đoàn tụ. Về con chung anh M xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị L đã khai, nếu ly hôn xảy ra anh đề nghị được nuôi dưỡng 02 con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung tùy thuộc khả năng của chị L. Về tài sản chung anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên hòa giải và phiên tòa lần 1 và lần 2 anh M đều vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã xác minh:

- Ông Đào Văn X là trưởng thôn A, xã Q, ông Phạm Văn Q là công chức Tư pháp xã Q đều cung cấp hoàn cảnh điều kiện, thời gian kết hôn, thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị L và anh M. Hiện tại chị L đã trở về gia đình bố mẹ đẻ sinh sống, hai bên sống ly thân. Quan điểm của ông X và ông Q đều đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn nhân hòa giải để hai bên trở về đoàn tụ, nếu việc đoàn tụ không thành thì đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của chị L theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tại phiên tòa phát biểu ý kiến:

Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập đầy đủ các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ đúng trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với nguyên đơn trong các giai đoạn tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa là chấp hành chưa đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị L được ly hôn anh M; Về con chung: Xử giao 02 con chung là Đoàn Trịnh Phương A, sinh ngày 01/01/2012 và Đoàn Trịnh Phương T, sinh ngày 29/10/2014 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng, chị L nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/1 con/1 tháng. Về tài sản chung: chị L anh M không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên không đặt ra giải quyết; Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân và con chung. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Trịnh Thị L và anh Đoàn Văn M được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 24/02/2011 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị L và anh M chung sống tại xã Q, sau đó đi lao động tự do. Theo như chị L trình bày và Tòa án xác minh thu thập chứng cứ cho thấy trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 02/2023 chị L đã trở về gia đình bố mẹ đẻ tại xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa sinh sống và sống ly thân, anh M khai nhận anh có đi tìm nhưng chị L không trở về về đoàn tụ. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị L làm đơn khởi kiện đề nghị xin được ly hôn. Đối với anh M tại biên bản ghi lời khai anh M cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn và anh xin được đoàn tụ vợ chồng, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, để hai bên có cơ hội trở về đoàn tụ, nhưng chị L vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị xin được ly hôn, bản thân anh M đề nghị xin được đoàn tụ nhưng anh M cũng không có giải pháp nào hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh M vắng mặt không có lý do. Như vậy anh M không có thiện chí để Tòa án hòa giải, hàn gắn mâu thuẫn để vợ chồng trở về đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn anh M là có căn cứ.

[3]Về con chung: Chị L và anh M có 02 con chung là Đoàn Trịnh Phương A, sinh ngày 01/01/2012 và Đoàn Trịnh Phương T, sinh ngày 29/10/2014. Chị L đề nghị để anh M được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và chị nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/1 con/1 tháng. Tại biên bản ghi lời khai anh M cũng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Qua xác minh cho thấy 02 con chung hiện do anh M đang trực tiếp nuôi dưỡng, 02 con chung có nguyện vọng xin được sinh sống cùng với bố. Cơ sở thôn A, chính quyền địa phương đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo đời sống con chung. Vì vậy cần xử giao 02 con chung cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng, chị L nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/1 con/1 tháng là phù hợp với Điều 81, 82, 83, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Chị L và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.

[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị L và anh M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Đoàn Văn M.
  2. Về con chung: Xử giao con chung Đoàn Trịnh Phương A, sinh ngày 01/01/2012 và Đoàn Trịnh Phương T, sinh ngày 29/10/2014 cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/1 con/1 tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con chung được tính từ tháng 5/2025 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung: Chị L và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000516 ngày 06/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ chị L còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Quỳnh Hoàng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN MINH ĐỨC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân và gia đình Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn E, xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. -Bị đơn: Anh Đoàn Văn M, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger