|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06/3/2025
“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh
Ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Bảo Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 179/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 10/02/2025 và quyết định hoãn phiên toà số 19/2025/QĐ-ST, ngày 20/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1992
Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Đ (nay xã T), huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, hiện lao động tại Nhật Bản, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Trần Văn T, sinh năm 1987
Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Đ (nay xã T), huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Đài Loan, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Trần Văn T đăng ký kết hôn ngày 26/3/2011 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
Theo chị Phan Thị L trình bày: Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, đến giữa năm 2020 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm và tính cách khiến cho tình cảm vợ chồng không còn như trước. Đầu năm 2023 anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm, nhưng cuộc sống vợ chồng không có tiến triển tốt, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc. Chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.
Tại biên bản xác minh ngày 31/10/2024, bà Phan Thị X, mẹ đẻ anh Trần Văn T cho biết: Anh T, chị L kết hôn tự nguyện, hiện tại vợ chồng mâu thuẫn còn mâu thuẫn cụ thể như thế nào bà X không biết. Việc chị L làm đơn ly hôn, Tòa án đang giải quyết vụ án anh T biết, anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo nội dung đơn khởi kiện của chị L. Anh T không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án và cũng không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay tại nước ngoài.
2. Về con chung: Vợ chồng có 1 con là Trần Phan Bảo Y, sinh ngày 27/10/2012. Sau khi ly hôn, chị L có nguyện vọng giao con chung cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tiền cấp dưỡng nuôi con, chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107,110, 123 Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 28, 37, 227, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị L, cho chị Phan Thị L được ly hôn với anh Trần Văn T; về con chung: Giao con chung Trần Phan Bảo Y, sinh ngày 27/10/2012 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 6/2025 của chị L; về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét; về án phí buộc chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại công văn số 1171/QLXNC-Đ1 ngày 19/11/2024 của Phòng Q Công an tỉnh H về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Trần Văn T đã xuất cảnh ngày 15/11/2022 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo thông tin người nhà anh T cho biết hiện tại anh T đang lao động tại Đài Loan.
Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn anh T đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Theo Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh Trần Văn T qua bà Phan Thị X là mẹ của anh T. Bà X cho biết hiện tại anh T lao động tại nước Đài Loan và thường xuyên liên lạc với gia đình, bà X không cung cấp địa chỉ hiện tại của anh T tại nước ngoài. Tòa án gửi công văn đề nghị Ban Đ đăng thông tin cho anh T. Đ đã đăng thông tin cho anh T trong 3 ngày liên tiếp từ ngày 16,17,18/12/2024 nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Chị L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt chị L, anh T theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Trần Văn T đăng ký kết hôn ngày 26/3/2011 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị L thừa nhận vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Theo bà X mẹ anh T cho biết hiện tại vợ chồng chị L, anh T có mâu thuẫn. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ, yêu thương lẫn nhau. Nhưng, giữa chị L và anh T không còn tình cảm, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị L, xử cho chị Phan Thị L được ly hôn với anh Trần Văn T.
[2.2] Quan hệ con chung: Vợ chồng chị L, anh T có một con chung là cháu Trần Phan Bảo Y, sinh ngày 27/10/2012. Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng giao con chung cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tiền cấp dưỡng nuôi con, chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, hiện tại cháu Trần Phan Bảo Y đang sinh sống cùng bà Phan Thị X là mẹ đẻ anh T, được bà X chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà X tự nguyện nuôi cháu Y thay anh T trong thời gian anh T không có mặt tại Việt Nam. Cháu Y có đơn trình bày nguyện vọng được ở với Anh T. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung Trần Phan Bảo Y cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị L có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh T không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
[2.4] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107,110, 123 Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 28, 37, 227, 238, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Về con chung: Giao con chung Trần Phan Bảo Y, sinh ngày 27/10/2012 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị L có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.
- Về án phí: Buộc chị Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000083 ngày 09/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Chị L còn phải nộp tiếp 300.000 đồng (án phí cấp dưỡng).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Minh Thư |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L-T tranh chấp Hôn nhân và gia đình
