|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/6/2025
V/v: "Tranh chấp ly hôn và nuôi con".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh và bà Trà Thị Thanh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXX- HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Xuân T, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Phan Văn G, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị Xuân T trình bày: Giữa bà Lê Thị Xuân T và ông Phan Văn G tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã S vào ngày 05/9/2012. Trong thời chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã nhau do bất đồng quan điểm về làm ăn và tiền bạc. Nguyên nhân là ông Giàu có tính gia trưởng, độc đoán, nhiều lần chửi bới xúc phạm bà T. Hơn nữa, ông G thường xuyên ăn nhậu và mỗi lần nhậu về là kiếm cớ gây sự, hăm dọa giết vợ con. Nay bà T nhận thấy không thể sống chung với ông G được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Lê Thị Xuân T được ly hôn với ông Phan Văn G.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông G, bà T có 02 con chung là cháu Phan Vũ Huy K, sinh ngày 12/10/2007 và cháu Phan Đăng K1, sinh ngày 07/6/2015. Khi ly hôn, bà Lê Thị Xuân T có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Phan Vũ Huy K, sinh ngày 12/10/2007 và cháu Phan Đăng K1, sinh ngày 07/6/2015.
- Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Thị Xuân T tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Bị đơn là ông Phan Văn G đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và cũng không tham gia phiên tòa.
Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn là ông Phan Văn G đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa bà Lê Thị Xuân T và ông Phan Văn G tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã S vào ngày 05/9/2012. Trong thời chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã nhau do bất đồng quan điểm về làm ăn và tiền bạc. Nguyên nhân là ông Giàu có tính gia trưởng, độc đoán, thường xuyên ăn nhậu và mỗi lần nhậu về là kiếm cớ gây sự, hăm dọa giết vợ con. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Giao cháu Phan Vũ Huy K, sinh ngày 12/10/2007 và cháu Phan Đăng K1, sinh ngày 07/6/2015 cho bà Lê Thị Xuân T chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa bà Lê Thị Xuân T và ông Phan Văn G tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã S vào ngày 05/9/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Trong thời chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã nhau do bất đồng quan điểm về làm ăn và tiền bạc. Nguyên nhân là ông Giàu có tính gia trưởng, độc đoán, thường xuyên ăn nhậu và mỗi lần nhậu về là kiếm cớ gây sự, hăm dọa giết vợ con. Do đó, bà Lê Thị Xuân T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Phan Văn G là có cơ sở chấp nhận.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là ông Phan Văn G không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xem xét ý kiến, nguyện vọng của bị đơn. Đồng thời, hành vi này cũng thể hiện ý chí của bị đơn về việc không muốn hòa giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Xuân T và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
[4]. Về con chung: Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/4/2025, cháu Phan Vũ Huy K, sinh ngày 12/10/2007 và cháu Phan Đăng K1, sinh ngày 07/6/2015 đều trình bày nguyện vọng ở với mẹ (bà T). Đây là ý chí tự nguyện của các con chung, phù hợp với ý kiến của nguyên đơn nên cần được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5]. Về chia tài sản và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Bà Lê Thị Xuân T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Xuân T được ly hôn với ông Phan Văn G.
Về con: Giao cháu Phan Vũ Huy K, sinh ngày 12/10/2007 và cháu Phan Đăng K1, sinh ngày 07/6/2015 cho bà Lê Thị Xuân T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Lê Thị Xuân T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0011171 ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
3. Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đình Khương |
4
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Xuân Thảo được ly hôn với ông Phan Văn Giàu. Về con: Giao cháu Phan Vũ Huy Khang, sinh ngày 12/10/2007 và cháu Phan Đăng Khôi, sinh ngày 07/6/2015 cho bà Lê Thị Xuân Thảo tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
