Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/02/2025

V/v Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Xứng

Bà Trần Thị Ngọc Trân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Lành – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Sơn Thị T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: 8 ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Toh Yong S, sinh năm 1988

Địa chỉ: JA 5750 TAMAN PERMAI 77200 BEMBAN MELAKA MALAYSIA.

(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai bà Sơn Thị T trình bày: Năm 2018, bà qua Malaysia làm việc có quen biết ông Toh Yong S, sau khi tìm hiểu nảy sinh tình cảm, có đăng ký kết hôn tại Malaysia vào ngày 13/8/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Malaysia, khoảng 01 năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn, ông S không chịu đi làm mà ở nhà chơi game, một mình bà lao động chăm lo cho gia đình, ông S không quan tâm đến vợ con, thường hay đánh vợ con. Đến tháng 12/2022 bà mang 02 con về Việt Nam, sau đó ông S về Việt Nam bắt lại một đứa con và quay về Malaysia, đến nay bà không trở về Malaysia, ông S cũng không qua Việt Nam. Do không am hiểu pháp luật Việt Nam nên sau khi đăng ký kết hôn tại Malaysia vợ chồng không về Việt Nam đăng ký ghi chú kết hôn.

Hiện tại ông S sống và làm việc tại Malaysia, bà sống tại Việt Nam, hai bên không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với ông Toh Yong S.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Toh Zhe Y, sinh ngày 10/10/2018 giới tính nam và Toh Zhe K, sinh ngày 06/01/2020 giới tính nam. Bé Toh Zhe Y hiện đang sống cùng bà tại Việt Nam, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng bé Toh Z Yu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Bé Toh Zhe K hiện đang sống cùng ông S tại Malaysia, bà đồng ý giao bé K cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng bé K đến tuổi trưởng thành, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Hiện tại bà chỉ cung cấp được bản chính giấy khai sinh của bé Toh Zhe Y, sinh ngày 10/10/2018, còn bé Toh Zhe K, sinh ngày 06/01/2020 bà chỉ cung cấp được bản photo, bản chính lúc chồng bà ông S mang con về Malaysia đã lấy theo nên bà không cung cấp được.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông Toh Yong S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và chưa có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Sơn Thị T theo ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Sơn Thị T với bị đơn ông Toh Yong S. Về con chung: Giao con chung là Toh Zhe Y, sinh ngày 10/10/2018 cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi. Giao con chung là Toh Zhe K, sinh ngày 06/01/2020 cho ông S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục: Nguyên đơn bà Sơn Thị T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Toh Yong S vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ. Do vậy căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị T và ông Toh Yong S đăng ký kết hôn tại Malaysia, không đăng ký ghi chú kết hôn tại Việt Nam theo Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính Phủ về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nên không được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Sơn Thị T và ông Toh Yong S theo bà T trình bày là do kinh tế gia đình khó khăn, ông S có hành vi bạo lực trong gia đình, không chăm lo cuộc sống chung, hai bên đã không còn tình cảm, quan tâm, liên lạc với nhau từ tháng 12/2022 đến nay. Căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận mối quan hệ giữa bà Sơn Thị T và ông Toh Yong S là vợ chồng.

[3] Về con chung: Bà Sơn Thị T xác định quá trình chung sống có 02 người con tên Toh Zhe Y, sinh ngày 10/10/2018 giới tính nam và Toh Zhe K, sinh ngày 06/01/2020 giới tính nam. Bé T1 Zhe Yu hiện nay do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại Việt Nam, Bé Toh Z do ông S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại Malaysia.

Ông S được Tòa án ủy thác tư pháp hợp lệ theo thủ tục niêm yết văn bản tố tụng tại trụ sở và trên cổng thông tin điện tử của Đ tại Malaysia nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên vợ chồng không thỏa thuận về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy cháu T1 Zhe Yu từ khi sinh ra đến nay đều do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện tại cháu được bà T trực tiếp nuôi dưỡng tại Việt Nam. Cháu Toh Zhe K từ tháng 12/2022 đến này đều do ông S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại Malaysia. Do đó cần giữ ổn định cho cháu và đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho hai cháu nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Toh Zhe Y, sinh ngày 10/10/2018 cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Toh Zhe K, sinh ngày 06/01/2020 cho ông S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nếu sau này nếu ông S bà T có tranh chấp nuôi con chung sau ly hôn thì ông, bà có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[4] Án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Sơn Thị T phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000₫ theo biên lai thu 0005596 ngày 01/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang

[5] Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC.

Phí ủy thác tư pháp: Bà Sơn Thị T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, bà T đã nộp theo biên lai thu số 0099650 ngày 20/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Chi phí thực tế ủy thác tư pháp: Căn cứ Công văn số 6513/BTP-PLQT ngày 29/12/2023 của Bộ Tư pháp về việc thu phí ủy thác tư pháp. Bà Sơn Thị T được hoàn trả 3.000.000 đồng chi phí ủy thác thực tế theo biên lai thu số 0007758 ngày 20/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang, do hiện nay Malaysia không thu chi phí thực tế đối với hồ sơ tống đạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm c khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Sơn Thị T và ông Toh Yong S là vợ chồng
  2. Về con chung: Giao cháu Toh Zhe Y, sinh ngày 10/10/2018 cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 Zhe Yu đủ 18 tuổi.
  3. Giao cháu Toh Zhe K, sinh ngày 06/01/2020 cho ông S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 Zhe Kai đủ 18 tuổi.

    Bà T không yêu cầu ông Toh Yong S cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông S, bà T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Sơn Thị T xác định không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  5. Án phí: Bà Sơn Thị T phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000₫ theo biên lai thu 0005596 ngày 01/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang
  6. Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp:
  7. Phí ủy thác tư pháp: Bà Sơn Thị T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, bà T đã nộp theo biên lai thu số 0099650 ngày 20/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

    Chi phí thực tế ủy thác tư pháp: Bà Sơn Thị T được hoàn trả 3.000.000 đồng chi phí ủy thác thực tế theo biên lai thu số 0007758 ngày 20/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang,

6. Quyền kháng cáo: Bà Sơn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết.

Riêng ông Toh Yong S có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận :

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - THA dân sự tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sơn Thị T ly hôn với Toh Yong S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger