Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 16 – 06 – 2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Viết Chiến

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương

2. Ông Lê Thế Hải

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 89/2025/ TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/HNGĐ - ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2025/QÐST – HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đậu Văn T, sinh năm 1986

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã T, thị xã N, Thanh Hóa

Tại phiên toà có mặt nguyên đơn anh Đậu Văn T vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đậu Văn T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Đ kết hôn vào năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã T, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa ngày 23 tháng 01 năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, nên giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vả, xô xát, mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại động viên khuyên bảo nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được, mặc dù hiện nay chúng tôi ở cùng nhà nhưng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa ai lo bổn phận người đó. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị Đ.

- Về con chung: Anh T trình bày trong quá trình chung sống anh và chị Đ có 03 con chung là cháu Đậu Thị Mỹ L, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2010, cháu Đậu Thị Mỹ D, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2012 và cháu Đậu Văn Tuấn D1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015, ly hôn nguyện vọng của anh T muốn xin được nuôi cháu Đậu Văn Tuấn D1, giao cháu Đậu Thị Mỹ L và cháu Đậu Thị Mỹ D cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đ mỗi cháu một tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 02 cháu mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).

- Về tài sản và công nợ: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Đ trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định của Pháp luật. Chị Đ nhận các văn bản tố tụng của Toà án nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa án làm việc. Tại phiên tòa hôm nay chị Đ đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt.

Tại biên bản xác minh đối với thôn T, xã T nơi vợ chồng anh T, chị Đ sinh sống, đại diện thôn L cho biết anh T và chị Đ có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn L, xã T. Trong cuộc sống chỉ biết vợ chồng anh T, chị Đ hiện nay ở cùng nhà nhưng giữa hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa còn nguyên nhân cụ thể thì do anh T, chị Đ không báo cáo với thôn và địa phương nên không biết. Về con chung anh T và chị Đ có 03 con chung là các cháu L, D và cháu D1 hiện nay các cháu đang đi học và sinh sống cùng bố mẹ tại thôn L, xã T.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ vào các Điều 51,56,81,82, 83, 107 VFA Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình.

+ Về hôn nhân: Xử cho anh Đậu Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Đ.

+ Về con chung: Giao cháu Đậu Văn Tuấn D1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu Đậu Thị Mỹ L – sinh ngày 07 tháng 9 năm 2010, cháu Đậu Thị Mỹ D, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2012 cho chị Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đ hàng tháng mỗi cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 02 cháu mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Anh T và chị Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được phép ngăn cản.

+ Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí: Anh T phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm và án phí cấp dưỡng định kỳ nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và sau khi nghe ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa anh và chị Đ, chị Đ cư trú tại xã T, thị xã N, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Việc tống đạt các văn bản tố tụng trong vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho các đương sự nhưng tại các buổi làm việc chỉ có mặt nguyện đơn anh T, bị đơn chị Nguyễn Thị Đ được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng chị Đ ký nhận văn bản, tuy nhiên chị Đ đã không đến Tòa án để làm việc, tại phiên tòa lần thứ nhất chị Đ vẫn vắng mặt Tòa án hoãn phiên tòa và tại phiên tòa hôm nay chị Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa anh T và anh chị Đ: Anh Đậu Văn T và chị Nguyễn Thị Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã T,thị xã N), tỉnh Thanh Hóa nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoản năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vả. Toà án tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh T và chị Đ sinh sống được biết hiện nay anh T và chị Đ vẫn sống cùng nhà nhưng vợ chồng sống không hạnh phúc và không quan tâm đến nhau. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay anh T kiên quyết xin ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đậu Văn T.

[3] Về con chung: Anh T và chị Đ có 03 con chung là cháu: Đậu Thị Mỹ L, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2010, cháu Đậu Thị Mỹ D, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2012 và cháu Đậu Văn Tuấn D1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015, ly hôn nguyện vọng của anh T muốn xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu D1 còn giao cháu L và cháu D cho chị Đ nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng của các cháu) anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

Việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng con. Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp của con. Các quyền lợi đó là: điều kiện học tập, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của các con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con, anh T và chị Đ đều là lao động tự do, tuy nhiên xét theo nguyện vọng của các cháu bên cạnh đó đối với cháu L và cháu D là con gái cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ nên giao cho chị Đ nuôi cháu L và cháu D và giao cháu D1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đúng theo quy định của Pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ phải nuôi 02 cháu nên anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi chung cùng chị Đ mỗi tháng 01 cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 02 cháu mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).

Anh T và chị Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không được cản trở nhau thực hiện quyền này.

[4] Về tài sản và công nợ: Các đương sự không đề nghị toà án giải quyết, nên không xét.

[5] Về án phí: Anh T khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

[6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; 81; 82; 83, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; 227; 228; 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đậu Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Đ;

2. Về con chung: Giao Đậu Văn Tuấn D1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Đậu Thị Mỹ L, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2010, cháu Đậu Thị Mỹ D, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2012 cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 01 cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 02 cháu mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung kể từ tháng 7/2025 đến khi cháu L và cháu D trưởng thành. Anh T và chị Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không được cản trở nhau thực hiện quyền này.

3. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản.

4. Án phí: Anh T phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm: 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005992 ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Anh T còn phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng định kỳ nuôi con chung.

5. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND xã Tùng Lâm;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Viết Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ - ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoản năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vả. Toà án tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Thanh và chị Đức sinh sống được biết hiện nay anh Thanh và chị Đức vẫn sống cùng nhà nhưng vợ chồng sống không hạnh phúc và không quan tâm đến nhau. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa anh Thanh và chị Đức mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay anh Thanh kiên quyết xin ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đậu Văn Thanh.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger