|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2025
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hứa Thị Hương.
- Bà Đỗ Thị Ái Thương.
- Thư ký phiên toà: ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Y, sinh ngày 27/51971.
Số căn cước công dân: [...].
Nơi đăng ký thường trú: số nhà A, ngõ D, phố H, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/01/1968.
Số căn cước công dân: [...].
Nơi đăng ký tạm trú: số D, phố H, khu dân cư A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Chị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh D chung sống cùng nhau từ năm 1987 nhưng đến ngày 14/7/2015 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Trước lúc kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện của hai bên. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Y khai là do vợ chồng cùng nhau vào miền N làm kinh tế nhưng không có kết quả nên năm 2013 chị Y về trước và sinh sống tại thị trấn P, huyện K. Đến năm 2014 thì anh D về ở cùng chị, vài tháng sau thì anh D đã sang K thuê nhà trọ và chung sống với người phụ nữ khác (chị không biết người này là ai, ở đâu). Vì thế vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau nhiều lần. Anh Dũng còn đánh chị gây thương tích và chửi bới xúc phạm gia đình chị. Vì thế chị đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2015 đến năm 2024 thì về nước. Bản thân chị đã cố gắng chịu đựng vì con và mong anh D suy nghĩ lại để cùng nhau nuôi dạy con nhưng anh D không thay đổi tính cách mà ngày càng cục cằn hơn. Mặc dù vợ chồng sống cùng nhà nhưng mỗi người một phòng không liên quan đến nhau, không ăn chung, việc ai người đó làm và không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đề nghị được ly hôn với anh D.
- Về con chung: chị và anh D có 3 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 27/7/1988, Nguyễn Thị H, sinh ngày 27/7/1988 và Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/3/1998. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: chị Y không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý và giấy triệu tập cho anh D. Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của BLTTDS, Tòa án đã lập biên bản về việc không tống đạt được và tiến hành thủ tục niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đối với bị đơn là anh D. Tuy nhiên anh D không đến Tòa án để trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Y.
Tòa án tiến hành xác minh về điều kiện kết hôn, mâu thuẫn của chị Y và anh D, được đại diện UBND thị trấn P cung cấp: chị Y và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thị xã K. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã L một thời gian rồi mới đưa nhau về chung sống tại thị trấn P. Từ khi sinh sống ở thị trấn P, vợ chồng có xảy ra va chạm. Năm 2015, chị Y đi lao động tại Đài Loan đến năm 2024 mới về, vợ chồng vẫn không khắc phục được những bất đồng quan điểm dẫn đến mâu thuẫn kéo dài. Tuy hai bên có mâu thuẫn nhưng không báo chính quyền địa phương giải quyết, địa phương chỉ nắm được thông qua cơ sở thôn báo cáo. Nay chị Y có đơn đề nghị xin ly hôn anh D đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án xác minh nơi cư trú của anh Nguyễn Văn D, được ông Nguyễn Hồng N, trưởng công an thị trấn P cung cấp: Anh Dũng hiện đang tạm trú tại số D phố H, khu dân cư A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt. Chị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, xử cho chị Y được ly hôn anh D.
- Về con chung: các con chung đã đủ tuổi trưởng thành, chị Y không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: không đặt ra giải quyết.
- Án phí: chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Y khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn D có địa chỉ đăng ký tạm trú tại thị trấn P, huyện K nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Kim Thành theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Y đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Dũng đã được triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Y và anh D được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 14/7/2015 tại UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau nhiều lần. Mặc dù vợ chồng chung sống cùng 1 nhà nhưng không ăn chung, mỗi người một phòng, không liên quan đến nhau, việc ai người đó làm và không quan tâm đến nhau. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn anh D. Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, anh D không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để Tòa án làm việc và hòa giải điều đó không những thể hiện việc anh D không chấp hành quy định của pháp luật mà còn có ý thức bỏ mặc cho quan hệ hôn nhân đổ vỡ. Đến nay, mâu thuẫn giữa hai anh chị không được khắc phục, vợ chồng vẫn tiếp tục sống ly thân và chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn. Như vậy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: chị Y và anh D có 3 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 27/7/1988, Nguyễn Thị H, sinh ngày 27/7/1988 và Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/3/1998. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[2.4]. Về án phí: chị Y là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Đều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X: chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị Y;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung: chị Y và anh D có 3 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 27/7/1988, Nguyễn Thị H, sinh ngày 27/7/1988 và Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/3/1998. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị Y đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006626 ngày 06/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, chị Y đã thi hành xong nghĩa vụ về án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Y-Ngô Văn D
