Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHÓ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-6-2025

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  2. Bà Lê Thị Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chung- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 06/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Địa chỉ liên hệ: Số nhà G đường Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Bị đơn: Ông Hồ Đăng T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số nhà A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 25/11/2024 và những lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L thể hiện như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Hồ Đăng T tự quen biết trong quá trình đi làm, đến năm 2018 hai người tìm hiểu và về chung sống cùng nhau ở phường L, Quận I (nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống vợ

chồng sống bình thường, đôi khi có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống giữa vợ chồng, một phần khác nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng mâu thuẫn là do người thân của ông T tác động, ngoài ra còn có nhiều người đến đòi nợ của ông T nên ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng. Mặc dù cuộc sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn nhưng do cần làm giấy khai sinh cho cháu  nên ngày 09/12/2021 bà và và ông T đi đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Bà L và ông T chỉ đăng ký kết hôn và chung sống cùng nhau chứ không tổ chức lễ cưới nhưng việc chung sống là tự nguyện được gia đình hai bên đồng ý.

Sau khi bà L và ông T đăng ký kết hôn thì về chung sống cùng bố mẹ ông T nhưng thời điểm này ông T không đi làm cũng không mang tiền về cho bà mà chỉ tụ tập bạn bè đi chơi, toàn bộ chi phí sinh hoạt của vợ chồng và con đều do bố mẹ chồng lo. Bà có nhờ bố mẹ ông T khuyên ông T thay đổi nhưng ông T không nghe. Từ đó vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không thể nói chuyện được với nhau do vậy từ tháng 05/2022 bà đưa con về Tây Ninh sống, còn ông T sống tại B. Từ khi vợ chồng sống ly thân bà và ông T cũng không có liên lạc gì với nhau vì ông T đã chặn số điện thoại của bà, bà cũng đã thông báo việc ly hôn nhưng do ông T không có phản hồi gì.

- Về con chung: Bà L và ông T có 01 con chung là Hồ Nguyễn Phúc Â, sinh ngày 07/02/2019. Hiện cháu  đang do ông T nuôi dưỡng từ khoảng tháng 08- 09/2022 cho đến nay.

Từ khi ông T nuôi cháu  bà L thấy cháu  có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường. Nay bà L đồng ý giao cháu  cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà L xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà L cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại bản tự khai, trong quá trình làm việc bị đơn ông Hồ Đăng T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông T thừa nhận ông và bà L đăng ký kết hôn vào ngày 09/12/2021 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nên xảy ra tranh cãi, vợ chồng không hạnh phúc, đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên ông T cũng đồng ý ly hôn với bà L.

- Về con chung: Ông T trình bày ông và bà L có 01 con chung là Hồ Nguyễn Phúc Â, sinh ngày 07/02/2019. Hiện tại cháu  đang sống cùng ông T, ông T cũng đủ điều kiện nuôi con, có công việc và thu nhập ổn định nên khi ly hôn ông T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là Hồ Nguyễn Phúc Á, sinh ngày 07/02/2019, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

2

- Về tài sản chung: Ông T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Ông T xác nhận vợ chồng không có vay nợ chung ai.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng không thành.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn bà L, bị đơn ông T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L về việc ly hôn với ông Hồ Đăng T; giao con chung là cháu Nguyễn Phúc Â, sinh ngày 07/02/2019 cho ông T nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con ông T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết, về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết;

- Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L, bị đơn ông Hồ Đăng T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

3

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Hồ Đăng T chung sống với nhau từ năm 2018, việc chung sống là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn lại tại UBND phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/12/2021. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án cả bà L và ông T đều trình bày vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2022. Theo bà L nguyên nhân do ông T không có nghề nghiệp, không có thu nhập mà thường xuyên tụ tập bạn bè chơi bời, bà còn nghi ngờ ông T sử dụng ma túy. Bà L có nhờ gia đình chồng khuyên bảo ông T nhưng không thành vì vậy từ khoảng tháng 05/2022 bà đưa con về Tây Ninh sống. Từ đó bà và ông T cũng không có liên lạc gì vì ông T và gia đình đã chặn điện thoại của bà. Còn ông T cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hay tranh cãi, vợ chồng không còn hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2022 không ai quan tâm đến ai.

Nay bà L và ông T xác định không còn tình cảm gì với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nên bà L và ông T đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Hội đồng xét xử thấy rằng qua lời trình bày của các đương sự và kết quả xác minh cho thấy giữa bà L và ông T có xảy ra mâu thuẫn trong thời gian chung sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022. Tòa án đã triệu tập ông T nhiều lần để hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, cả bà L và ông T đều có nguyện vọng giải quyết ly hôn điều đó chứng tỏ mâu thuẫn hôn nhân giữa bà L và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014, xử cho bà L và ông T được ly hôn là có cơ sở và đúng pháp luật.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Qua lời thừa nhận của bà L và ông T cùng các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình xác định bà L và ông T đã có với nhau 01 con chung tên là Hồ Nguyễn Phúc Â, sinh ngày 07/02/2019.

Nay bà L đồng ý giao cháu  cho ông T nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Còn ông T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Â, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi bà L và ông T sống ly thân cho đến nay cháu  do ông T nuôi dưỡng, chăm sóc. Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc con, bà L xác định ông T có đủ điều kiện nuôi con và và ông T luôn đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đồng thời ông T cũng có nguyện vọng được nuôi cháu  do vậy để đảm bảo sự ổn định và phát triển bình thường của con chung cần áp dụng khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, xử giao cháu Hồ Nguyễn Phúc Â, sinh ngày 07/02/2019 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên là cần thiết và đúng pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L, ông T đều xác định không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L đối với ông Hồ Đăng T.
  2. Cho bà Nguyễn Thị Trúc L ly hôn với ông Hồ Đăng T.

  3. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 01 con chung là Hồ Nguyễn Phúc Â, sinh ngày 07/02/2019 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
  4. “Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình”.

  5. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà L đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006228 ngày 06/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

5

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Hòa

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Bảo Lộc;
  • - Chi cục THADS thành phố Bảo lộc;
  • - UBND phường Long Trường, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hòa

6

7

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Vũ Khắc Quế

Lê Thị Thanh Nhàn

Lê Thị Hòa

8

9

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÀ L YÊU CẦU LY HÔN VỚI ÔNG T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger