Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11 - 6 - 2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tính và ông Đào Văn Kiểm

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Xuân N, sinh năm 1991; ĐKHKTT tại: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Chị Phạm Thị Bích L, sinh năm 1995;

Địa chỉ: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn anh Lê Xuân N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Bích L có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ vào năm 2022. Trong quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn. Sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn, không còn nói chuyện, quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách cùng quan điểm sống vợ chồng trái ngược nhau. Do mâu thuẫn, chị L đã chuyển về nhà mẹ đẻ ở Khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ từ tháng 10 năm 2023. Vợ chồng tôi đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai từ đó đến nay. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung, là cháu: Lê Bích T, sinh ngày 22/10/2022. Khi ly hôn anh đề nghị để chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung và không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2025 chị Phạm Thị Bích L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân Chị và anh Lê Xuân N kết hôn năm 2022, trước khi kết hôn vợ chồng có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn. Chị và cháu T hiện nay đang ở nhà bố mẹ đẻ chị tại khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Chị và anh N đã sống ly thân được khoảng một năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách vợ chồng trái ngược nhau, vợ chồng thường xuyên không nói chuyện, không quan tâm đến nhau. Nay anh Lê Xuân N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N được ly hôn với chị thì chị không đồng ý, còn nếu anh N kiên quyết ly hôn thì anh N tự giải quyết một mình.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung, là cháu: Lê Bích T, sinh ngày 22/10/2022. Nếu ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký Tòa án và của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh N, xử cho anh N được ly hôn với chị L.

- Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Lê Bích T cho chị Phạm Thị Bích L trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công sức và quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Hai bên đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về án phí: Anh N chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung giữa chị Anh Lê Xuân N và chị Phạm Thị Bích L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị Phạm Thị Bích L đăng ký thường trú tại Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử vụ án tại Tòa án: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, như Thông báo thụ lý vụ án, Giấy báo đương sự; Thông báo phiên họp về việc tiếp cận, công khai, giao nộp chứng cứ và hòa giải; Kết quả phiên họp tiếp cận, công khai, giao nộp chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Quá trình giải quyết vụ án, Chị liên không đến tào làm việc. Vì vậy, Tòa án phải lấy lời khai chị L tại nhà bố mẹ đẻ của chị ở tại Khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 03/6/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và quyết định hoãn phiên toà. Ngày 09/5/2025, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án được mở lại. Tại phiên tòa này bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 điều 228; điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, và quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Anh Lê Xuân N và chị Phạm Thị Bích L đều xác nhận vợ chồng có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ năm 2022. Lời khai này phù hợp với Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 14/4/2022 do anh N giao nộp cho Tòa án, phù hợp với biên bản xác minh ngày 11/4/2025 tại trụ sở UBND xã T. Do vậy, xác định hôn nhân giữa anh N và chị L là hôn nhân hợp pháp.

Anh N và chị L đều xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, không còn nói chuyện, quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách cùng quan điểm sống vợ chồng trái ngược nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau, khi sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L. Chị L có quan điểm không đồng ý ly hôn. Nếu anh N nhất quyết ly hôn thì anh N tự làm thủ tục một mình.

Toà án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh N đang cư trú thì được biết hiện nay chị L và con chung không sinh sống cùng anh N tại đội H, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay chị L và con chung đang sinh sống ở nhà mẹ đẻ chị L tại khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ được khoảng một năm nay.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng anh N, chị L đã lsống ly thân, khi sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Chị L tuy không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có nguyện vọng xin được đoàn tụ. Chị cũng có quan điểm nếu anh N nhất quyết ly hôn thì để anh N tự làm thủ tục ly hôn một mình. Anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, chứng tỏ tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn chị L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần được chấp nhận.

[3]. Về con chung:

Vợ chồng anh N chị L đều xác nhận có 01 con chung là Lê Bích T, sinh ngày 22/10/2022. Khi ly hôn, anh N đề nghị để chị L nuôi cháu T. Chị L đề nghị được nuôi cháu T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đề nghị của anh N về việc giao cháu T cho chị L chăm sóc, giáo dục.

Chị L tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung và anh N có quan điểm không cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy anh N không phải cấp dưỡng nuôi cháu T cùng chị L là phù hợp và cần chấp nhận.

[4]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Anh N và chị L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5]. Về án phí: Anh Lê Xuân N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là có căn cứ cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1, khoản 3 điều 228; điều 238; điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 58, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Xuân N được ly hôn chị Phạm Thị Bích L.
  2. Về con chung:

    Giao cho chị Phạm Thị Bích L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Bích Thủy S ngày 22/10/2022 . Anh Lê Xuân N không phải cấp dưỡng nuôi cháu Lê Bích T cùng chị Phạm Thị Bích L.

    Anh Lê Xuân N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Lê Xuân N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0003474 ngày 17/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Anh Lê Xuân N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Tùng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân N ly hôn Phạm Thị Bích L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger