Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/11/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh và bà Hoàng Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Hải – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh ngày 27/7/2000; CCCD: [...].

Địa chỉ: Bon N, xã T, tỉnh Lâm Đồng – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Ngô Nhật P, sinh ngày 19/12/1993; CCCD: [...].

Địa chỉ: Bon N, xã T, tỉnh Lâm Đồng – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2025, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:

Chị Phan Thị T và anh Ngô Nhật P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/12/2018 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng). Qúa trình chung sống, anh chị có nhiều mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nên chị T và anh P đã không còn chung sống với nhau. Chị T nhận thấy hôn nhân của anh chị không thể hàn gắn được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Ngô Nhật P.

Về con chung: Chị Phan Thị T và anh Ngô Nhật P có 01 con chung là Ngô Gia H, sinh ngày 14/01/2021, hiện nay con chung đang ở với chị T. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 21 tháng 10 năm 2025, chị Phan Thị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Theo lời khai của bị đơn anh Ngô Nhật P trình bày:

Anh Ngô Nhật P và chị Phan Thị T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/12/2018 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng). Qúa trình chung sống, anh chị có nhiều mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nên chị T và anh P đã không còn chung sống với nhau từ tháng 3 năm 2025 đến nay. Theo đơn khởi kiện thì anh P đồng ý ly hôn với chị Phan Thị T.

Về con chung: Chị Phan Thị T và anh Ngô Nhật P có 01 con chung là Ngô Gia H, sinh ngày 14/01/2021, hiện nay con chung đang ở với chị T. Sau khi ly hôn, anh P đồng ý giao con cho chị Phan Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P và chị T tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 14 tháng 10 năm 2025, anh Ngô Nhật P có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và sự tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; sau khi đưa vụ án ra xét xử chị T và anh P đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Nhật P và chị Phan Thị T.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T ly hôn với anh Ngô Nhật P.

Về con chung: Giao con chung Ngô Gia H, sinh ngày 14/01/2021 cho chị Phan Thị T trực tiếp có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Phan Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

Anh Ngô Nhật P có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Chị Phan Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn với anh Ngô Nhật P; anh Ngô Nhật P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại bon N'Jang B, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; quan hệ pháp luật yêu cầu giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2]. Về nội dung vụ án.

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Ngô Nhật P đăng ký kết hôn vào ngày 18/12/2018 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng) theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, đời sống hôn nhân giữa chị T và anh Phi thường X nảy sinh mâu thuẫn và bất hòa, nguyên nhân là do cả hai không cùng quan điểm sống, chị T có nguyện vọng được ly hôn với anh P. Anh P đồng ý ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Phan Thị T và anh Ngô Nhật P mâu thuẫn giữa chị T và anh P là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị Phan Thị T ly hôn với anh Ngô Nhật P.

[2.2]. Về con chung: Chị Phan Thị T có nguyện vọng nuôi con chung là Ngô Gia H, sinh ngày 14/01/2021. Sau khi chị T và anh P không sống chung với nhau thì cháu H ở với chị T, anh P đồng ý giao con cho chị T được trực tiếp nuôi nên giao các con chung cho chị Phan Thị T trực tiếp nuôi là phù hợp. Chị Phan Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

Anh Ngô Nhật P có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4.]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm d khoản 1 Điều 15, khoản 5 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T ly hôn anh Ngô Nhật P.

2. Về con chung: Giao con chung Ngô Gia H, sinh ngày 14/01/2021 cho chị Phan Thị T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Anh Ngô Nhật P có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng theo biên lai số 00003921 ngày 06 tháng 10 năm 2025.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND khu vực 8 (02 bản);

- THADS tỉnh Lâm Đồng;

- UBND xã T;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Thị T ly hôn với anh Ngô Nhật Ph
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger