Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày 06-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Ông Vũ Khắc Tân

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 451/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; nơi ĐKTT: Số B lô A Khu C, phường D (nay là phường T), quận L, Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Thôn B xã D, huyện K, Hải Phòng; có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1; nơi ĐKTT: Số B lô A Khu C, phường D (nay là phường T), quận L, Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại số A, Trại giam S - T, Nghệ An; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/3/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 06/12/2000. Cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 nghiện ma tuý từ năm 2000, vợ chồng chỉ chung sống cùng nhau được vài năm, thời gian chủ yếu anh H1 ở trong tù. Một mình chị H phải nuôi dạy 03 con chung. Năm 2023 sau khi ở tù về anh H1 đã bán căn nhà là nơi ở duy nhất, 4 mẹ con chị phải về bên ngoại ở. Sau đó anh H1 bị bắt và đang thi hành án tại Trại Giam S, Nghệ An về tội Trộm cắp tài sản. Đến nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.

Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có 03 con chung là Nguyễn Thị H2, sinh ngày 01/4/2001; Nguyễn Thùy L, sinh ngày 02/11/2002; Nguyễn Thị Mai L1, sinh ngày 16/01/2007; các con chung đều đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt trong các buổi làm việc do đang thi hành án tại Trại Giam S - Nghệ An và đang bị trích xuất lưu phạm tại Trại tạm giam Công an thành phố H để xét xử hình sự tại Toà án nhân dân quận An Dương, Hải Phòng. Anh H1 đã có bản tự khai gửi Toà án với nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H1 cho rằng mình đã nhiều lần phạm tội, không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha nên đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Nguyễn Thị H2, sinh ngày 01/4/2001; Nguyễn Thùy L, sinh ngày 02/11/2002; Nguyễn Thị Mai L1, sinh ngày 16/01/2007; các con chung đều đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu toà án giải quyết.

* Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Nguyễn Văn H1, có ĐKTT tại số B lô A Khu C, phường D (nay là phường T), quận L, Hải Phòng; hiện vắng mặt tại địa phương, đang chấp hành án tại Trại giam S T, Nghệ An.

Ý kiến của gia đình: Gia đình chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị H ly hôn anh H1. Về con chung, chị H và anh H1 có 03 con chung đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết việc nuôi con.

Tại phiên tòa: Chị H giữ nguyên quan điểm như nội dung nêu trên. Anh H1 vắng mặt đã được công bố các lời khai có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, xây dựng, lập hồ sơ vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị H và anh H1 là hợp pháp; cuộc sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh H1. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Nguyễn Thị H2, sinh ngày 01/4/2001; Nguyễn Thùy L, sinh ngày 02/11/2002; Nguyễn Thị Mai L1, sinh ngày 16/01/2007; các con chung đều đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1] Đây là vụ án hôn nhân gia đình tranh chấp về ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Văn H1, có ĐKTT tại số B lô A Khu C, phường D (nay là phường T), quận L, Hải Phòng. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng theo quy định tại tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của bị đơn:

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh H1 vắng do đang phải chấp hành án tại trại giam, tuy nhiên anh H1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh H1.

- Về nội dung vụ án

+ Về quan hệ hôn nhân.

[3] Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D (nay là phường T), quận L, thành phố Hải Phòng ngày 16/12/2000, do đó quan hệ hôn nhân của chị H và anh H1 là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 nghiện ma tuý, không quan tâm, chăm sóc đến gia đình, nhiều lần vi phạm pháp luật hình sự và hiện đang phải thi hành án tại Đội 28, phân trại số A, Trại giam S - T, Nghệ An. Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn anh H1 theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Về con chung:

[5] Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có 03 con chung là Nguyễn Thị H2, sinh ngày 01/4/2001; Nguyễn Thùy L, sinh ngày 02/11/2002; Nguyễn Thị Mai L1, sinh ngày 16/01/2007. Các con chung đều đã trưởng thành, chị H và anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung:

[6] Chị Phạm Thị H và anh H1 không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về án phí:

[7] Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án quận Lê Chân, thành phố Hải phòng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003599 ngày 13/3/2025. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND phường Trần Nguyên Hãn, Lê Chân, Hải Phòng (ĐKKH ngày 16/12/2000);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huế Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger