Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 03 - 2025

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Sỹ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu, ông Mai Văn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Chế Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Phương N, sinh ngày 02/8/1993, nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; hiện trú tại: Hẻm H, khu phố B phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Ngô Tấn L, Văn phòng L1 - Chi nhánh huyện Q; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H, sinh ngày 06/5/1994. Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn C T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình; hiện có địa chỉ tại: Số C ngõ A phố W, thị trấn L, huyện C (huyện C), Đ, Đài Loan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 15/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Phương N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Phương N và anh Nguyễn Đức H có quá trình tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 20/01/2017 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì xẩy ra mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp. Năm 2018, anh H xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị N đã thông báo cho anh H biết việc chị làm đơn xin ly hôn anh tại Tòa án tỉnh Quảng Bình và anh H cũng đồng ý cung cấp địa chỉ ở nước ngoài cho chị. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn. Vì vậy chị N yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức H.

Về con chung: Chị Trần Thị Phương N trình bày vợ chồng có 01 con chung cháu Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 26/07/2017. Hiện nay cháu đang sống với chị N. Sau khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu anh Nguyễn Đức H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị Phương N trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Đức H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã có Văn bản số 111/TAND-CV ngày 20/6/2024 ủy thác tư pháp thông qua cơ quan có thẩm quyền Văn phòng đại diện kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đ để tống đạt các văn bản tố tụng và thu thập lời khai đối với anh H, đồng thời Tòa án yêu cầu niêm yết công khai tại trụ sở và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quan Văn phòng đại diện kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đ; Toà án cũng tiến hành niêm yết văn bản tố tụng cho bị đơn tại nơi cư trú cuối cùng và thông báo qua kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của Đ VOV5. Ngoài ra, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho gia đình anh H để gia đình thông báo cho anh H biết về việc Tòa án thụ lý vụ án ly hôn, giữa chị Trần Thị Phương N và anh Nguyễn Đức H. Tuy nhiên Toà án không nhận được ý kiến của anh H về việc ly hôn với chị N.

- Ý kiến của người thân bị đơn: Tại biên bản xác minh ngày 12/12/2024 của bà Lê Thị B (mẹ bị đơn Nguyễn Đức H): Bà B cho biết hiện nay anh Nguyễn Đức H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan đúng như địa chỉ mà chị N cung cấp cho Tòa án; bà B sẽ thông báo cho anh H biết các văn bản, giấy tờ mà Tòa án gửi cho anh H thông qua gia đình bà. Đối với việc ly hôn của vợ chồng anh H, chị N bà không có ý kiến gì, tùy thuộc vào quyết định của hai vợ chồng. Anh H, chị N có 01 con chung cháu Nguyễn Thị Phương N1 đúng như chị N trình bày, khi anh H đi nước ngoài thì cháu sống với mẹ, việc cháu ở với mẹ hay bố cũng do vợ chồng quyết định. Về tài sản chung, nợ chung đúng như chị N trình bày vợ chồng không có tài sản chung, bà cũng không có ý kiến gì.

- Ý kiến của con: Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 09/01/2025 của cháu Nguyễn Thị Phương N1, cháu N1 có nguyện vọng được ở mẹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án; tại phiên tòa bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương N, xử cho chị N được ly hôn anh Nguyễn Đức H; về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 26/07/2017 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí sơ thẩm buộc chị N phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đức H đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh Quảng Bình, hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan; theo thông tin cung cấp của Phòng Q - Công an tỉnh Q thì anh H đã xuất cảnh nhiều lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 30/10/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Đây là vụ án về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Đức H ở nước ngoài như: Tòa án đã ủy thác tư pháp thông qua cơ quan có thẩm quyền Văn phòng đại diện kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đ để yêu cầu cơ quan này tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H và niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại trụ sở và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền Văn phòng Đ1 tại Đ (Ngày 26/8/2024 Tòa án nhân được Công điện số: 417-2024/CĐ-LS ngày 22/8/2024 của Văn phòng đại diện kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đà thông báo cho Tòa án biết đã thực hiện niêm yết công khai và thông báo văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh H trên Cổng thông tin điện tử của Văn phòng đại diện kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đ). Toà án đã thông báo qua kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của Đ VOV5; gửi các văn bản tố tụng về gia đình của bị đơn anh Nguyễn Đức H, thực hiện niêm yết văn bản tại địa phương, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Như vậy, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài theo đúng quy định tại Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã mở phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 06/02/2025, nhưng do bị đơn anh Nguyễn Đức H vắng mặt nên đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay chị Trần Thị Phương N có mặt, còn anh Nguyễn Đức H tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227; điểm a, b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Đức H.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ tình cảm: Chị Trần Thị Phương N và anh Nguyễn Đức H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 20/01/2017, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N với anh H là hợp pháp.

Theo chị N trình bày thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp; vợ chồng thiếu sự tin tưởng, cảm thông cho nhau. Từ năm 2018, anh H xuất khẩu lao động đến nay chưa về nước, hai người đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên chị N xin được ly hôn anh H.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Đức H, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các phương thức tống đạt văn bản tố tụng của Toà án để thông báo cho anh H biết việc chị N xin ly hôn anh tại Toà án; đã tiến hành niêm yết thông báo cho anh tại địa phương (nơi cư trú trước khi xuất cảnh); đã gửi thông báo qua gia đình để gia đình thông báo cho anh H biết việc chị N làm đơn xin ly hôn anh tại Tòa án nhưng anh H cũng không gửi ý kiến về cho Tòa án. Điều này chứng tỏ anh H cũng không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng. Do đó, cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình để xử cho chị Trần Thị Phương N được ly hôn anh Nguyễn Đức H.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị Phương N và anh Nguyễn Đức H có một đứa con chung, cháu Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 26/07/2017. Xét thấy, cháu N1 đã sống với chị N từ khi anh H đi xuất khẩu lao động đến nay. Nguyện vọng của chị N mong muốn tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con. Cháu N1 cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Mặt khác, do hiện nay anh H đang ở nước ngoài nên không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị N và nguyện vọng cháu N1. Giao cháu Nguyễn Thị Phương N1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Tòa án không buộc anh Nguyễn Đức H phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3]. Về quan hệ tài sản chung: Chị Trần Thị Phương N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[2.4]. Về án phí. Chị Trần Thị Phương N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[2.5]. Về lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài; lệ phí đăng tin: Tổng số tiền lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài và đăng tin trên Đài VOV5 là 3.402.000 đồng. Số tiền này chị Trần Thị Phương N tự nguyện nộp đầy đủ cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc uỷ thác tư pháp ra nước ngoài và đăng tin trên Đài VOV5. Do chị N không có yêu cầu gì đối với số tiền này nên Toà án không xem xét.

[2.6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 479 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, các Điều 227, 474, điểm a, b khoản 5 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 123, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Phương N được ly hôn anh Nguyễn Đức H.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cháu Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 26/07/2017 cho chị Trần Thị Phương N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Anh Nguyễn Đức H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các bên đều có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Phương N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0004888 ngày 03/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Phương N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Đức H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Bình;
  • - Các đương sự trong vụ án;
  • - UBND xã Gia Ninh, huyện Q. Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, Tòa dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Hữu Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị N Xin ly hôn với anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger