Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG ĐIỀN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/4/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phan Thị Phương My;
  2. Ông Phan Cảnh Quyện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa: Ông Hồ Vũ Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền (Số A N, thị trấn S, huyện Q, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 134/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh N, sinh năm 1980trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H- có mặt
  • Bị đơn: Anh Lê N1, sinh năm 1983trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/8/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn - chị Lê Thị Thanh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê N1 và chị Lê Thị Thanh N tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 28/11/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N1 thường xuyên nhậu nhẹt, bài bạc và không có trách nhiệm với gia đình. Hiện nay vợ chồng sống ly thân gần 02 năm và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh N1.

- Về con chung: Chị Lê Thị Thanh N xác nhận vợ chồng có 03 con chung tên là Lê Thanh N2, sinh ngày 29/9/2002; Lê Thanh C, sinh ngày 28/4/2004; Lê Quỳnh A, sinh ngày 22/5/2009. 02 cháu Lê Thanh N2 và Lê Thanh C đã trưởng thành nên vấn đề nuôi con không đặt ra, cháu Lê Quỳnh A có nguyện vọng được ở với chị N. Chị N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Quỳnh A và không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Lê Thị Thanh N không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Lê Thị Thanh N xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập, Quyết định hoãn phiên tòa để anh N1 đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh N1 vẫn vắng mặt nên Tòa án không có lời khai.

Ý kiến của chính quyền địa phương do Tòa án thu thập được: Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn của UBND xã Q, huyện Q, thành phố H không có tên anh Lê N1 và chị Lê Thị Thanh N theo như giấy chứng nhận kết hôn của UBND xã Q cấp ngày 28/11/2002 cho anh Lê N1 và chị Lê Thị Thanh N mà chị N đã cung cấp cho Toà án. Anh Lê N1 và chị Lê Thị Thanh N có sinh sống tại thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H. Trong quá trình chung sống anh N1 và chị N rất khép kín nên địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa hai vợ chồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, các bên đương sự đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326 về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thanh N, cho chị N được ly hôn anh N1. 02 cháu Lê Thanh N2, sinh ngày 29/9/2002; Lê Thanh C, sinh ngày 28/4/2004 đã trưởng thành nên vấn đề nuôi con không đặt ra. Giao con chung Lê Quỳnh A, sinh ngày 22/5/2009 cho chị Lê Thị Thanh N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên, anh Lê Ngọc K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê N1 và chị Lê Thanh N chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận hôn nhân hợp pháp. Tại UBND xã Q, huyện Q, thành phố H không lưu việc đăng ký kết hôn của anh N1 và chị N cũng như tại giấy chứng nhận kết hôn mà chị N1 đã cung cấp cho Toà không có chữ ký của cả hai vợ chồng nhưng giấy chứng nhận kết hôn này có xác nhận đóng dấu của UBND xã Q nên Hội đồng xét xử kiến nghị Ủy ban nhân dân xã Q chấn chỉnh công tác lưu trữ và thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn trên địa bàn.

Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng chị N, anh N1 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N trình bày là do anh N1 thường xuyên nhậu nhẹt, bài bạc và không có trách nhiệm với gia đình. Chị N, anh N1 hiện nay đã ly thân, giữa vợ chồng không quan tâm, chăm sóc đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng anh N1 không đến Tòa án làm việc đã chứng tỏ anh N1 có thái độ bỏ mặc, không tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị N vẫn kiên quyết ly hôn với anh N1.

Như vậy, xét thấy vợ chồng chị N, anh N1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh N1 là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tại phiên tòa.

[2] Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị N, anh N1 có 03 con chung tên là Lê Thanh N2, sinh ngày 29/9/2002; Lê Thanh C, sinh ngày 28/4/2004; Lê Quỳnh A, sinh ngày 22/5/2009. Hiện 02 cháu Thanh N2 và Thanh C đã trưởng thành, cháu Quỳnh A đang được chị N nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án chị N vẫn không thay đổi ý kiến về việc nuôi con, cháu Quỳnh A có nguyện vọng ở với mẹ và để ổn định cuộc sống, học tập của con chưa thành niên nên cần thiết phải giao cháu Quỳnh A cho chị N nuôi dưỡng là đúng quy định pháp luật. Chị N có đủ thu nhập ổn định để nuôi con và không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Lê Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí giải quyết ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thanh N, cho chị Lê Thị Thanh N được ly hôn với anh Lê N1; quan hệ hôn nhân chấm dứt, kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Quỳnh A, sinh ngày 22/5/2009 cho chị Lê Thị Thanh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lê N1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí giải quyết ly hôn; được khấu trừ hết vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000686 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • TAND thành phố Huế;
  • VKSND huyện Quảng Điền;
  • CCTHADS huyện Quảng Điền;
  • UBND xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền;
  • Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quốc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger