TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày 03-3-2025 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Trưởng;
Ông Lê Ngọc Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 03/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 06/2025/TLST-HNGĐ ngày 05/02/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Đ, thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Lê Thanh Q, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Đ, thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/02/2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Lê Thanh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 28/8/2014, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sinh sống tại nhà chồng ở xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Lê Nguyễn Nhật H, sinh ngày 14/3/2015, hiện nay đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Bà làm nghề công nhân, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 10 năm 2023, bà và ông Q ly thân từ đó đến nay, bà về sống với bố mẹ ruột tại xã Â, còn ông Q vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Q ngoại tình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không hoà hợp được, mặc dù cha mẹ hai bên có hoà giải nhưng không cứu vãn được. Vợ chồng ly thân đã lâu nên tình cảm ngày càng xa cách. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Thanh Q.
Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi con chung tên Lê Nguyễn Nhật H, sinh ngày 14/3/2015; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 06/02/2025 và các lời khai tại Toà án, bị đơn ông Lê Thanh Q trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 28/8/2014, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông sinh sống tại nhà chồng ở xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Lê Nguyễn Nhật H, sinh ngày 14/3/2015, hiện nay đang được bà N nuôi dưỡng ổn định. Ông làm nghề kinh doanh, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 10 năm 2023, ông và bà N ly thân từ đó đến nay, bà N về sống với bố mẹ ruột tại xã Â, còn ông vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng nhiều vấn đề trong cuộc sống vợ chồng, kinh tế không ổn định dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Mặc dù cha mẹ hai bên đã hoà giải nhưng không thể cứu vãn được. Vợ chồng ly thân đã lâu nên tình cảm ngày càng xa cách. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Ông đồng ý giao con chung tên Lê Nguyễn Nhật H, sinh ngày 14/3/2015 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Lê Thanh Q.
Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Lê Nguyễn Nhật H, sinh ngày 14/3/2015 cho bà Nguyễn Thị N tiếp tục nuôi dưỡng; ông Lê Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu ly hôn ông Lê Thanh Q. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Lê Thanh Q đăng ký thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh Q. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 28/8/2014 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Theo bà N trình bày: mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 10 năm 2023, bà và ông Q ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Q ngoại tình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không hoà hợp được. Vợ chồng ly thân đã lâu nên tình cảm ngày càng xa cách.
Đối với bị đơn ông Lê Thanh Q: Về quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống, nuôi con chung thống nhất như bà N trình bày. Tuy nhiên, theo ông thì nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng nhiều vấn đề trong cuộc sống vợ chồng, kinh tế không ổn định dẫn đến thường xuyên cãi nhau.
Nay, bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh Q đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ được nên bà N, ông Q đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà N, ông Q mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh Q có 01 con chung tên Lê Nguyễn Nhật H, sinh ngày 14/3/2015. Hiện con đang được bà N nuôi dưỡng ổn định; tại biên bản lấy lời khai ngày 06/02/2025, cháu H cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với bà N; ông Q cũng đồng ý giao con cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Nên giao con chung cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh Q không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Lê Thanh Q.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Nhật H, sinh ngày 14/3/2015 cho bà Nguyễn Thị N tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Lê Thanh Q được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0004863, ngày 05/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Tâm |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Đội 1, thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. - Bị đơn: Ông Lê Thanh Q, sinh năm 1992; Địa chỉ: Đội 1, thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định
