|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do –Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày 01-12-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Hà và ông Đoàn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 01/12/2025, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/10/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994 – vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Đường P, tổ dân phố T, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Phan Thế H1, sinh năm 1989 – vắng mặt
Địa chỉ: Số G đường N, tổ dân phố E, phường C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày có nội dung: Chị và anh Phan Thế H1 quen biết tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 01 năm 2015, tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã B (nay là phường C), tỉnh Đắk Lắk. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc, sau khi về chung sống với nhau thì hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì với nhau. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống với nhau thì giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xảy bất đồng với nhau về quan điểm sống vì những lý do nhỏ nhặt, ngoài ra quá trình chung sống anh H1 thường xuyên đánh bạc, không lo làm ăn, bản thân chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H1 vẫn không thay đổi. Sau khi xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng cũng đã ngồi lại nói chuyện với nhau nhưng vẫn không có kết quả. Hai vợ chồng bắt đầu sống ly thân với nhau từ tháng 4 năm 2025 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Thế H1.
Về con chung: Quá trình chung sống, hai vợ chồng có với nhau 01 con chung là cháu Phan Đình T, sinh ngày 06/7/2015, hiện nay cháu đang ở cùng với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Phan Thế H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại bản tự khai ngày 11/8/2025, ghi nhận ý kiến của cháu Phan Đình T, sinh ngày 06/7/2015 như sau: Nguyện vọng của cháu khi cha mẹ ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ là Nguyễn Thị Thu H.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H về quan hệ hôn nhân, về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về trình tự thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phan Thế H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 01 năm 2015, tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã B (nay là phường C), tỉnh Đắk Lắk. Sau khi kết hôn chị H và anh H1 sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị Nguyễn Thị Thu H đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay.
Kết quả xác minh tại địa phương: Về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống giữa anh H1 và chị H có xảy ra mâu thuẫn gì không thì địa phương không nắm được, do khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị không trình báo gì với ban tự quản. Nhưng hiện nay chị H đang sinh sống cùng cha mẹ đẻ của mình.
Mặt khác, bị đơn anh Phan Thế H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng, không có văn bản nêu ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 có xảy ra mâu thuẫn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H có yêu cầu giải quyết cho vợ chồng bà được ly hôn và anh H1 đồng ý với yêu cầu của chị H. Do đó việc giải quyết cho chị H ly hôn anh Phan Thế H1 là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh H1 có 01 người con chung là cháu Phan Đình T, sinh ngày 06/7/2015. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng, theo kết quả xác minh tại địa phương thì hiện tại cháu T đang sinh sống cùng chị H. Xét thấy, yêu cầu giải quyết về con chung của chị H là phù hợp với ý kiến và nguyện vọng của cháu Phan Đình T; mặt khác, bị đơn anh Phan Thế H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng, không có văn bản nêu ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, giao cho chị H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phan Đình T, sinh ngày 06/7/2015 cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4.4] Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 144; Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Phan Thế H1.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Phan Đình T, sinh ngày 06/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Anh Phan Thế H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004321 ngày 17/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Khanh |
4
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Thế H1
