Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HC-ST

Ngày: 25-3-2025

V/v “Khiếu kiện quyết định hành

chính trong quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thanh Nhật
  2. Ông Nguyễn Hoàng Huy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thoa - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân tỉnh Long An họp phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 290/2024/TLST-HC ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý đất đai”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HC ngày 07 tháng 3 năm 2025, giữa:

  1. Người khởi kiện:

    Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950. Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Bá T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (Có mặt)

  2. Người bị kiện:

    Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Hữu T1, Chủ tịch UBND huyện (Có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Bà Huỳnh Thị T2 (đã chết)

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà T2:

    1. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1956 (có văn bản đề nghị vắng mặt)
    2. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1959 (có văn bản đề nghị vắng mặt)
    3. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1965 có mặt)

    Cùng địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T4 bày như sau:

Tại đơn khởi kiện người khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDĐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Huỳnh Thị T2 đối với thửa đất số 1050 tờ bản đồ số 3, diện tích 8.672m², loại đất cây lâu năm (CLN), tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Sau khi xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, người khởi kiện bổ sung yêu cầu khởi kiện: Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDĐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Huỳnh Thị T2 đối với thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 3.

Lý do khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Đ và chồng, ông Nguyễn Văn P, được cha mẹ cho phần đất có chiều ngang khoảng 15m, chiều dài khoảng 40m, diện tích khoảng 600m², tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Bà Đ, ông P quản lý sử dụng từ trước năm 1965 cho đến nay. Trên thửa đất 1054, 1050 bà Đ, ông P hiện xây dựng nhà cấp 4 kiên cố kết cấu cột Bê tông cốt thép, vách tường, mái tôn, nền lát gạch bông và phần còn lại làm vườn, quản lý và sử dụng liên tục cho đến nay cũng không có ai tranh chấp. Đến tháng 12/2023, bà Đ làm thủ tục đăng ký kê khai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện phần đất trên bà Huỳnh Thị T2 đã đăng ký kê khai luôn phần đất ông P, bà Đ sử dụng và bà Huỳnh Thị T2 đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDĐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 đối với thửa 1050 và 1054.

Xét thấy, việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1050, 1054 tờ bản đồ số 3, loại đất trồng cây lâu năm (CLN), diện tích 8.672m² tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An cho bà Huỳnh Thị T2 vào năm 1996, trong đó có phần diện tích khoảng 600m² đất có nguồn gốc từ cha mẹ ông P cho vợ chồng ông P, bà Đ đã cho là không đúng người sử dụng, làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, bà Đ. Nay ông P, chồng bà Đ và bà T2 đều đã chết nên bà Đ đề nghị Tòa án giải quyết hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDĐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 đối với thửa 1050, 1054 tờ bản đồ số 3; xác định ông T3, ông Đ1, ông N con bà T2 là người có quyền nghĩa vụ liên quan.

Người bị kiện vắng mặt, có văn bản trình bày số 16111/UBND-TD ngày 11/12/2024: Người khởi kiện yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDĐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 đối với thửa 1050 tờ bản đồ số 3, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu bổ sung của người khởi kiện, Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản nêu ý kiến.

Người có quyền nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N trình bày: Thửa đất 1050 do mẹ ông là bà T2 đứng tên quyền sử dụng, nay bà T2 chết không để lại di chúc, trong anh em có thống nhất giao cho ông N quản lý, sử dụng nhưng chưa làm văn bản hợp pháp. Ông N đồng ý với yêu cầu của bà Đ nhưng yêu cầu bà Đ chừa lối đi cho ông N đi vào thửa đất bên trong vì phần đất bà Đ sử dụng cặp đường, phần đất ông N sử dụng bên trong không có lối đi vào. Phần đất bà Đ sử dụng đã có ranh ổn định từ trước đến nay. Nay đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần bà Đ sử dụng nhưng đề nghị chừa lối đi khoảng 2m cho ông N có lối đi vào thửa đất phía trong.

Ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn Đ1 vắng mặt có văn bản nêu ý kiến trình bày: Thống nhất yêu cầu của bà Đ.

Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 1050, 1054, 1052, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Kết quả xác định: Bà Nguyễn Thị Đ sử dụng phần đất do cha mẹ chồng để lại, có cột mốc, không tranh chấp ranh đất. Trên đất có căn nhà cấp 4 do gia đình bà Đ xây dựng. Mảnh trích đo bản đồ địa chính ngày 25/12/2024 của Công ty TNHH Đ4 thể hiện, phần đất bà Đ sử dụng thuộc một phần thửa 1050, một phần thửa 1054 và một phần thửa 1052, tờ bản đồ số 3.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ khẳng định chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Huỳnh Thị T2 đối với hai thửa 1050, 1054. Đối với thửa 1052 do chưa xác định người đứng tên chủ sử dụng nên không yêu cầu trong vụ án này.

Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ; lập biên bản đối thoại không được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:

Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Việc thu thập chứng cứ, xác minh, công khai chứng cứ đảm bảo. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về thời hiệu: Vào tháng 12/2023, bà Đ làm thủ tục đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện đất của bà Đ sử dụng đã được cấp giấy cho bà T2 nên đến tháng 10/2024 bà Đ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nên còn thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung: Lời trình bày của người khởi kiện, người có quyền nghĩa vụ liên quan thống nhất, phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, M trích đo địa chính, thể hiện bà Nguyễn Thị Đ quản lý, sử dụng một phần thửa 1050, một phần thửa 1054, tờ bản đồ số 3, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Huỳnh Thị T2. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị T2 đúng trình tự thủ tục nhưng không đúng vị trí, đối tượng sử dụng.

Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.

Buộc cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về đối tượng khởi kiện, phạm vi giải quyết, thẩm quyền xét xử: Người khởi kiện yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDĐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Huỳnh Thị T2 đối với thửa đất số 1050, 1054 tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Đây là yêu cầu “Hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”. Căn cứ Điều 30 và Khoản 3, 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Tòa án căn cứ Điều 8 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thụ lý giải quyết theo tố tụng hành chính giải quyết theo yêu cầu của đương sự.

[2] Về thời hiệu: Vào tháng 12/2023, bà Đ làm thủ tục đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện đất của bà Đ sử dụng đã được cấp giấy cho bà T2 nên đến tháng 10/2024 bà Đ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nên còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[3] Về tư cách tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Đ2 kiện Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long Annên xác định bà Nguyễn Thị Đ3 khởi kiện; Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long Anngười bị kiện. Yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDĐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Huỳnh Thị T2. Tuy nhiên, hiện bà T2 đã chết, di sản thừa kế cửa bà T2 chưa chia nên xác định các người thừa kế của bà T2 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

[4] Việc công khai chứng cứ, đối thoại và xét xử vắng mặt đương sự.

Tòa án tiến hành đối thoại theo tố tụng hành chính nhưng người bị kiện không có mặt dù được triệu tập hợp lệ nên căn cứ Điều 135 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Tòa án lập biên bản không đối thoại được;

Tòa án công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 138 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[5] Việc xét xử vắng mặt đương sự.

Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn Đ1 là người kế thừa quyền nghĩa vụ của bà Huỳnh Thị T2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện và người kế thừa quyền nghĩa vụ của người có quyền nghĩa vụ liên quan.

[6] Về yêu cầu của người khởi kiện:

Người khởi kiện yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDÐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Huỳnh Thị T2 đối với thửa đất số 1050, 1054 tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An để bà Đ được quyền kê khai đăng ký lại đúng với thực tế sử dụng đất.

[7] Xét thấy, người khởi kiện và ông Nguyễn Văn N là người trực tiếp sử dụng một phần thửa đất 1050, 1054 do bà T2 để lại, các người thừa kế khác của bà T2, ông Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn T3 đều thống nhất phần đất bà Đ sử dụng hiện nằm một phần trong thửa 1050, 1054 do bà Huỳnh Thị T2 đứng tên. Việc sử dụng đất của bà Đ ổn định từ trước đến nay, không tranh chấp ranh đất. Lời trình bày của các đương sự phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và M trích đo bản đồ địa chính. Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ có cơ sở chấp nhận.

[8] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc 17.000.000 đồng bà Nguyễn Thị Đ tự nguyện nộp và đã nộp xong.

[9] Về án phí hành chính sơ thẩm: Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Đ không phải chịu tiền án phí. Bà Nguyễn Thị Đ được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không xử lý tiền tạm ứng án phí. Ủy ban nhân dân huyện C phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 3, Điều 30, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015;

Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 193, khoản 1 Điều 157, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013;

Áp dụng Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long Anvề việc “Hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
    1. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 048377, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 307 QSDÐ/0408-LA vào ngày 09/08/1996 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Huỳnh Thị T2 đối với thửa đất số 1050, 1054 tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
    2. Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị Đ.
  2. Về chi phí thẩm định: 17.000.000đ. Bà Nguyễn Thị Đ tự nguyện chịu, đã nộp xong.
  3. Về án phí hành chính sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí.

    Buộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long Anphải chịu và nộp 300.000₫.

  4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - UBND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Hoàng Thị Thúy Lành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HC-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý đất đai

  • Số bản án: 30/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Đ - UB
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger