Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/DS-ST

Ngày: 23-5-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Phương Dung

Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Phương Trúc – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 3151/2024/TLST-KDTM ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V; Địa chỉ trụ sở: Số H phố L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị Ái H, sinh năm 1985 hoặc ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1999 hoặc ông Dụng Nhật K, sinh năm 1996; Địa chỉ liên hệ: Lầu C, Số B đường Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 13848.04/2025/UQN-PUN-RCC ngày 21 tháng 4 năm 2025)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1980, CCCD số [...]; Địa chỉ: Số F đường S, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 8 năm 2024 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Đăng T đều trình bày: Nguyên đơn và bị đơn ký các hợp đồng sau:

- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 14 tháng 12 năm 2022; Hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 đồng; Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống; Lãi suất: 39,48%/năm. Tạm tính đến hết ngày 23 tháng 5 năm 2025, bị đơn còn nợ nguyên đơn 215.532.344 đồng, gồm: Nợ gốc 99.853.773 đồng, nợ lãi 115.678.570 đồng.

- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ngày 06 tháng 10 năm 2023; Số tiền vay: 41.300.000 đồng; Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống; Lãi suất: 26,7%/năm. Tạm tính đến hết ngày 23 tháng 5 năm 2025, bị đơn còn nợ nguyên đơn 67.046.939 đồng, gồm: Nợ gốc 41.300.000 đồng, nợ lãi 25.746.939 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán một lần số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2025 nêu trên và tiếp tục chịu nợ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 24 tháng 5 năm 2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh T1 không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn cư trú tại Số F đường S, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 14 tháng 12 năm 2022 và sao kê thẻ... thì nguyên đơn thỏa thuận cấp cho bị đơn thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng đúng như nguyên đơn trình bày. Việc cấp thẻ này được thực hiện theo Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đây là loại hợp đồng theo mẫu được ký kết đúng theo quy định của pháp luật.

[5] Theo Bảng kê tính lãi và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án thì trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 480.005.956 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bị đơn đã thanh toán nhiều lần tổng cộng là 388.742.570 đồng; Trong thời gian này, bị đơn không khiếu nại các thông báo giao dịch, tiền lãi và dư nợ hàng tháng mà vẫn đóng tiền. Theo điểm a khoản 3 Điều 6 và điểm a khoản 2 Điều 11 Phần D - Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, nếu đến Ngày đến hạn thanh toán, bị đơn không thanh toán hoặc không thanh toán đủ trị giá thanh toán tối thiểu ghi nhận trong kỳ sao kê gần nhất, phần trị giá thanh toán tối thiểu chưa thanh toán sẽ bị áp dụng lãi suất quá hạn; Nguyên đơn có quyền chấm dứt hạn mức sử dụng thẻ trong trường hợp sau 90 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán đầu tiên, nếu bị đơn không thanh toán đủ khoản trị giá thanh toán tối thiểu được thể hiện trên sao kê của kỳ gần nhất. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 14 tháng 12 năm 2022 và Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc bao gồm các giao dịch mua hàng, rút tiền mặt, phí chậm thanh toán, lãi, phí vượt hạn mức, phí rút tiền, phí thường niên được tính đúng theo thỏa thuận của hai bên.

[6] Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn, chuyển nợ quá hạn của thẻ tín dụng thẻ tín dụng từ ngày 13 tháng 12 năm 2023 và tiến hành thu hồi nợ vay là đúng theo thỏa thuận của hợp đồng; Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và Luật Các tổ chức tín dụng.

[7] Tại Biểu phí phát hành, sử dụng và biểu lãi suất của nguyên đơn thì mức lãi suất là 3,29%/tháng; mức lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn là 4,935%/tháng áp dụng đối với tất cả thẻ tín dụng quốc tế nguyên đơn phát hành cho khách hàng. Xét thấy, theo quy định tại khoản 14 Điều 4 và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật. Mức lãi suất của nguyên đơn thỏa thuận với bị đơn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[8] Từ những nhận định trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 99.853.773 đồng nợ gốc và 115.678.570 đồng nợ lãi quá hạn tính đến hết ngày 23 tháng 5 năm 2025, tổng cộng là 215.532.344 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 24 tháng 5 năm 2025 theo điểm a khoản 3 Điều 6 và điểm a khoản 2 Điều 11 Phần D - Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.

[9] Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ngày 06 tháng 10 năm 2023, nguyên đơn cho bị đơn vay 100.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Mua đồ gia dụng; Lãi suất: 26%/năm cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân và sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần bằng mức lãi suất theo Biểu lãi suất tham chiếu và biên độ lãi suất linh hoạt VND áp dụng đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân tại V1 được nguyên đơn công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ điều chỉnh tối đa là 18%; Điều kiện giao dịch chung được coi là phụ lục không tách rời của hợp đồng này. Căn cứ vào Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đây là loại hợp đồng theo mẫu được ký kết đúng theo quy định của pháp luật. Ngày 11 tháng 10 năm 2023, nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn 41.300.000 đồng.

[10] Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ dư nợ gốc của hợp đồng này được chuyển nợ quá hạn phù hợp với thỏa thuận của hai bên tại khoản 2 Điều 3 và Điều 6 Phần B – Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần và/hoặc vay theo hạn mức; Thời gian chậm trả tiền nợ gốc bắt đầu kể từ ngày chuyển nợ quá hạn là ngày 10 tháng 11 năm 2023 đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Căn cứ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ngày 06 tháng 10 năm 2023 đã ký giữa hai bên cũng như quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các khoản 1 và 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng N (có hiệu lực thi hành tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng tín dụng), yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 67.046.939 đồng còn nợ, gồm: 41.300.000 đồng nợ gốc và 25.746.939 đồng nợ lãi đến ngày 23 tháng 5 năm 2025 của hợp đồng nêu trên, có căn cứ để được chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị đơn phải chịu 14.128.964 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 14 Điều 4, Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng N; Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 07 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

    Buộc ông Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V các khoản sau:

    • 99.853.773 đồng nợ gốc và 115.678.570 đồng nợ lãi quá hạn tính đến hết ngày 23 tháng 5 năm 2025, tổng cộng là 215.532.344 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 14 tháng 12 năm 2022;
    • 41.300.000 đồng nợ gốc và 25.746.939 đồng nợ lãi tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2025, tổng cộng là 67.046.939 đồng theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ngày 06 tháng 10 năm 2023.
  2. Về án phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V 5.289.068 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0046100 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 14.128.964 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án (14).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 30/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger