Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/DS-ST

Ngày 19 - 02 – 2025

“V/v tranh chấp đòi tại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Việt Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Hoàng Sơn.

2. Bà Vũ Thị Mỹ Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham

gia phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Phong – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 tháng 01 và 17, 19 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân

dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý

số: 598/2024/TLST-DS ngày 07/10/2024 về việc tranh chấp đòi lại tài sản, theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 540/2024/QĐXXST- DS ngày 10/12/2024 giữa

các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Tô Thành D, sinh năm 1985 (có mặt).

    Địa chỉ: Ấp TH, xã TĐ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

  2. Bị đơn: Anh Lâm Tấn T, sinh năm 1984 (có mặt).

    Địa chỉ: Ấp TD, xã TĐ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau;

    Chỗ ở: Đường T, khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Tô Thành

D trình bày:

Do mối quan hệ quen biết nên trong khoảng thời gian từ năm 2023 - 2024

anh T có nhờ anh mua thức ăn tôm và thuốc kháng sinh dùng trong nuôi tôm

dùm cho anh T nhiều lần, anh T hứa khi nào bán tôm sẽ trả tiền lại cho anh.

Nhưng đến khi anh T bán được tôm thì anh T không thực hiện, không trả tiền lại

cho anh. Ngày 05/6/2024 giữa anh với anh T chốt nợ, đến ngày 14/7/2024 anh T

ký văn bản xác nhận còn nợ anh số tiền 160.048.000 đồng, trong đó gồm tiền

thức ăn tôm là 129.548.000 đồng, tiền thuốc kháng sinh 30.500.000 đồng. Sau

khi chốt nợ, anh đã nhiều lần yêu cầu anh T trả số tiền trên nhưng anh T không

trả. Vì vậy anh khởi kiện yêu cầu anh T trả lại cho anh số tiền 160.048.000 đồng,

ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.

- Tại biên bản hòa giải ngày 13/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn

anh Lâm Tấn T trình bày:

Trong khoảng thời gian từ năm 2023 - 2024 anh có nhờ anh D mua thức ăn

tôm và thuốc kháng sinh dùng trong nuôi tôm như anh D trình bày là đúng,

ngược lại thì anh cũng có mua thức ăn tôm dùm cho anh D. Giấy nợ ngày

14/7/2024 anh D giao nộp cho Tòa án do anh D là người tính toán công nợ, chữ

ký và chữ viết bên dưới giấy nợ là chữ ký chữ viết của anh, tuy nhiên tại thời

điểm ký xác nhận nợ thì anh chưa kiểm tra lại công nợ.

Theo phiếu Thông tin đơn hàng ngày 04/12/2023, trong đó có 02 tấn thức

ăn tôm loại SS40-17 giá 58.000.000 đồng là do anh đặt mua dùm cho anh D, anh

đã trả tiền thay cho anh D, nên anh yêu cầu đối trừ số tiền trên vào công nợ.

Ngoài ra, trong thời gian anh nuôi tôm, do tôm có bị bệnh, anh D có đưa

cho anh thuốc kháng sinh điều trị bệnh tôm trị giá 30.500.000 đồng để điều trị

bệnh cho tôm, thời điểm này anh D có nói khi nào tôm hết bệnh thì anh mới trả

tiền thuốc kháng sinh lại cho anh D. Trên thực tế tôm không hết bệnh nên anh

không đồng ý trả lại tiền thuốc cho anh D.

Do đó anh D yêu cầu anh trả số tiền 160.048.000 đồng thì anh không đồng

ý, anh chỉ đồng ý trả anh D số tiền 71.548.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau phát biểu ý kiến như

sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký

phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể

từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định

của pháp luật, không vi phạm.

Về nội dung: Căn cứ các T liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án như Giấy chốt nợ

ngày 14/7/2024; Phiếu thông tin đơn hàng do bị đơn đặt mua; Biên bản hòa giải

ngày 13/9/2024 của Tòa án huyện Đầm Dơi; Căn cứ vào lời trình bày của các

đương sự tại phiên tòa. Có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên

đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 160.048.000 đồng.

Án phí dân sự bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh

chấp đòi lại T sản theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại số tiền

160.048.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

2

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận nội dung

giấy chốt công nợ ngày 14/7/2024 là do nguyên đơn viết, chữ ký và chữ viết phần

cuối giấy chốt công nợ là chữ ký và chữ viết của bị đơn. Theo giấy chốt công nợ

ngày 14/7/2024, nguyên đơn ghi thể hiện nội dung số tiền bị đơn còn nợ là

160.048.000 đồng, bị đơn ghi thể hiện nội dung có phần nợ trên trong đó có phần

tiền thuốc kháng sinh là 30.500.000 đồng.

[2.2] Tại biên bản hòa giải ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm

Dơi và tại phiên tòa bị đơn đều cho rằng đối với tiền thức ăn tôm, do bị đơn đã

mua hộ cho nguyên đơn hai tấn thức ăn tôm có Mã sản phẩm: SS40-17 trị giá

58.000.000 đồng, bị đơn đã trả tiền thay cho nguyên đơn nên yêu cầu đối trừ vào

công nợ. Chứng minh cho lời trình bày của mình, bị đơn cung cấp hình ảnh Zalo

phiếu Thông tin đơn hàng ngày 04/12/2023.

Hội đồng xét xử nhận thấy, theo phiếu Thông tin đơn hàng ngày 04/12/2023

thể hiện:

  • Mã sản phẩm: SS40-17; tên sản phẩm: Thức ăn cho tôm thẻ (từ 10gr-

    18gr/con)-viên 1.7mm; quy cách: 20; số lượng 100;

  • Mã sản phẩm: SS40-10; tên sản phẩm: Thức ăn cho tôm thẻ (từ 1gr-

    3gr/con)-viên 1.0mm; quy cách: 20; số lượng 10;

  • Mã sản phẩm: SS40-MN; tên sản phẩm: Thức ăn cho tôm thẻ (PL2.5cm-

    1gr/con); quy cách: 10; số lượng 2”.

Tại phiên tòa bị đơn thừa nhận các sản phẩm theo phiếu Thông tin mua hàng

ngày 04/12/2023 là do bị đơn đặt mua, không phải do nguyên đơn đặt mua. Mặc

khác ngoài lời trình của bị đơn về việc bị đơn đặt mua hộ nguyên đơn hai tấn thức

ăn tôm có Mã sản phẩm: SS40-17 thì bị đơn không có chứng cứ gì để chứng minh

nguyên đơn nhờ đặt hàng mua hộ. Lý giải việc bị đơn đặt hàng mua hộ cho

nguyên đơn hai tấn thức ăn tôm có Mã sản phẩm: SS40-17 bị đơn cho rằng tại thời

điểm đặt hàng, tôm nuôi của bị đơn còn nhỏ, chưa sử dụng loại thức ăn viên

1.7mm, kèm theo lý giải trên bị đơn có cung cấp hình ảnh các ao tôm thể hiện tôm

nuôi của bị đơn tại thời điểm đặt mua hàng. Tuy nhiên xét thấy việc bị đơn lý giải

và cung cấp các hình ảnh ao tôm để chứng minh nguyên đơn có nhờ bị đơn đặt

mua hai tấn thức ăn tôm có Mã sản phẩm: SS40-17 là chưa thuyết phục. Bởi lẽ

trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không thừa nhận lời trình bày

của bị đơn về việc nguyên đơn có nhờ bị đơn đặt hàng mua hộ. Hơn nữa theo

nhật ký giao nhận hàng của Chành xe Hoàng Kha và Giấy xác nhận đề ngày

18/02/2025 của anh Liêu Hoàng Kha – là chủ Chành xe Hoàng Kha đã thể hiện

vào ngày 05/12/2023, Chành xe Hoàng Kha đã giao toàn bộ hàng hóa theo phiếu

Thông tin đơn hàng ngày 04/12/2023 tại cầu Chúa Biện cho người nhận hàng là bị

đơn. Do đó việc bị đơn cho rằng ngày 05/12/2023 bị đơn chỉ nhận hàng có Mã sản

phẩm: SS40-10 và Mã sản phẩm: SS40-MN; còn lại Mã sản phẩm: SS40-17 số

lượng hai tấn do nguyên đơn nhận để từ đó yêu cầu đối trừ số tiền 58.000.000

đồng là không có căn cứ.

[2.3] Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng trong thời gian bị đơn nuôi

tôm, do tôm có bị bệnh nên nguyên đơn có giao thuốc kháng sinh cho bị đơn để

3

điều trị bệnh cho tôm. Khi đó các bên có thỏa thuận khi tôm khỏi bệnh bị đơn

mới phải trả tiền thuốc kháng sinh. Lời trình bày nêu trên của bị đơn không được

nguyên đơn thừa nhận, nguyên đơn xác định không có việc thỏa thuận như bị

đơn trình bày. Do nguyên đơn không thừa nhận nhưng xét thấy ngoài lời trình

bày của mình thì bị đơn không cung cấp được T liệu chứng cứ gì để chứng minh

cho lời trình bày của mình, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận

lời trình bày của bị đơn về việc có thỏa thuận khi tôm khỏi bệnh bị đơn mới phải

trả tiền thuốc kháng sinh cho nguyên đơn.

Theo giấy chốt công nợ ngày 14/7/2024, bị đơn có ghi nội dung “trong đó

phần thuốc 30.500.000 đồng”. Do đó việc bị đơn không chấp nhận trả lại tiền

thuốc kháng sinh 30.500.000 đồng cho nguyên đơn xét thấy không có căn cứ.

[3] Từ những căn cứ như đã phân tích đánh giá trên, có căn cứ chấp nhận toàn

bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn

số tiền 160.048.000 đồng.

[4] Án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn

không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 166, 357 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Tô Thành D.

Buộc anh Lâm Tấn T có nghĩa vụ trả anh Tô Thành D số tiền 160.048.000

đồng (Một trăm sáu mươi triệu không trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày anh Tô Thành D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lâm Tấn T

không thi hành xong khoản tiền nêu trên thì phải chịu thêm khoản lãi phát sinh

theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số

tiền và thời gian chậm thi hành.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tô Thành D không phải chịu án phí, ngày

09/8/2024 anh D đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 4.001.000 đồng theo biên lai thu

tiền số 0001696 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau nên

được nhận lại. Anh Lâm Tấn T phải chịu án phí số tiền 8.002.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành

án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi

hành án dân sự.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tp.Cà Mau;
  • - Chi cục THADS tp. Cà Mau;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Việt Trung

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 30/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Tô Thành D. Buộc anh Lâm Tấn T có nghĩa vụ trả anh Tô Thành D số tiền 160.048.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu không trăm bốn mươi tám nghìn đồng). Kể từ ngày anh Tô Thành D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lâm Tấn T không thi hành xong khoản tiền nêu trên thì phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger