TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/DS-ST Ngày: 17 - 3 - 2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn và bà Trần Thị Bích Thủy.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long, Thư ký Toà án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Đinh Thanh Tâm, kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thuận Hóa, mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 276/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-KDTM ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1); địa chỉ: Số B đường P, phường N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số E đường H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H);
- - Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quang L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
- - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc H, chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H1 (Theo giấy ủy quyền số 42/GUQ-SGB ngày 04/3/2024), vắng mặt;
- - Người được ủy quyền lại: Ông Lê Văn V, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh H1 và ông Ngô Tiến T, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh H1 (Theo giấy ủy quyền số 17/GUQ-SGB-CNHUE ngày 10/7/2024), đều có mặt;
- * Bị đơn: Bà Lê Thị Á, sinh năm 1986; địa chỉ liên hệ: Số E đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường A, quận T, thành phố H), vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần T1, sinh năm 1947; địa chỉ: Số C đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận P, thành phố H), vắng mặt không lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP S (tên viết tắt là Ngân hàng S1) và bà Lê Thị Á có ký kết hợp đồng tín dụng số 170/2017/HĐTDTL-CN ngày 21/4/2017 để cho bà Á vay số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); thời hạn cho vay 12 tháng; mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh. Tuy nhiên, bà Á không có đăng ký kinh doanh; lãi suất trong hạn là 11%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm.
Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông Trần T1 đã thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 53 (lô 17), tờ bản đồ số 10, diện tích 78,7m²; tọa lạc tại địa chỉ: Số A đường L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H). Theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 905512 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 29/11/2005 đứng tên ông Trần T1 theo hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba số 16/HĐBĐ-2013 ngày 10/01/2013, được lập và công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
Ngân hàng TMCP S đã giải ngân đủ số tiền 5.000.000.000 đồng cho bà Á thông qua giấy nhận nợ số 01/2017/GNN-CN ngày 21/4/2017.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị Á chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi trong hạn là 373.698.631 đồng, chưa thanh toán nợ gốc. Kể từ tháng 01/2018 cho đến nay bà Á không tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng theo như thỏa thuận đã ký kết. Do đó, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay của bà Á sang nợ quá hạn. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc cũng như thông báo nợ quá hạn nhưng bà Lê Thị Á không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 17/3/2025 bà Lê Thị Á còn nợ Ngân hàng TMCP S(S1) số tiền là 11.565.113.115 đồng. Trong đó nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 201.232.875 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.221.095.890 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 142.784.350 đồng.
Do bà Lê Thị Á không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng TMCP S(S1) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Á có nghĩa vụ trả số tiền nêu trên và tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận quy định tại hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký kể từ ngày 18/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp bà Lê Thị Á không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S(S1) có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không thu hồi đủ nợ thì bà Lê Thị Á phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng S1 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Bị đơn bà Lê Thị Á quá trình gải quyết vụ án trình bày:
Về điều kiện và thời gian ký kết hợp đồng tín dụng như Ngân hàng S1 trình bày là đúng. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng số 170/2017/HĐTDTL-CN ngày 21/4/2017, Ngân hàng TMCP S(S1) đã giải ngân đủ số tiền 5.000.000.000 đồng thông qua giấy nhận nợ số 01/2017/GNN-CN ngày 21/4/2017. Để đảm bảo cho khoản vay ông Trần T1 đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 53 (lô 17), tờ bản đồ số 10, diện tích 78,7m²; tọa lạc tại địa chỉ: Số A đường L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H) theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 905512 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 29/11/2005 đứng tên ông Trần T1 theo hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba số 16/HĐBĐ-2013 ngày 10/01/2013, được lập và công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
Do công việc gặp nhiều khó khăn nên bà Á không thể thanh toán đầy đủ nợ vay theo như thoả thuận đã ký kết với Ngân hàng TMCP S (S1). Tuy nhiên, kể từ thời điểm bà vi phạm nghĩa vụ trả nợ là tháng 1/2018 cho đến năm 2024 Ngân hàng mới khởi kiện là đã hơn 06 năm. Việc Ngân hàng để một thời gian dài mới khởi kiện khiến cho số tiền lãi đã vượt quá 100% của số tiền nợ gốc mà bà vay, điều này ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cũng như quyền lợi của bà. Do đó, bà đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện về hợp đồng theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự không chấp nhận đối với yêu cầu trả lãi của Ngân hàng TMCP S (S1). Đối với yêu cầu trả nợ gốc là 5.000.000.000 đồng thì bà không có ý kiến gì.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần T1 nhưng quá thời hạn theo luật định ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã triệu tập ông Trần T1 đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông T1 đều vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và tiến hành hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa có ý kiến:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần T1.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 149, khoản 2 Điều 155, 275, 280, 292, 293, 294, 295, 298, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 323, 324, 351, 357, 429, 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Lê Thị Á phải trả số tiền nợ gốc, đình chỉ đối với yêu cầu trả lãi do đã hết thời hiệu khởi kiện. Trường hợp bà Lê Thị Á không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S (S1) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trong phạm vi bảo đảm là 5.000.000.000 đồng để thu hồi nợ.
- - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí và đã nộp đủ.
- - Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật; trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP S(S1) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Á phải trả số tiền còn nợ cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo thỏa thuận tại khoản 12.3 Điều 12 của hợp đồng về giải quyết tranh chấp, các bên thống nhất yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở hoặc Chi nhánh của Ngân hàng TMCP S giải quyết. Xét Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H1 có trụ sở hoạt động tại số E đường H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số 1314/NQ-UBTVQH15 ngày 30/11/2024 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của thành phố H giai đoạn 2023-2025, qua đó Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức giải thể kể từ ngày 01/01/2025 và thành lập Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa và Tòa án nhân dân quận Phú Xuân. Xét địa chỉ trụ sở của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H1 sau khi sắp xếp đơn vị hành chính thuộc phường P, quận T, thành phố H nên vụ án được Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa tiếp tục giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tốtụng dân sự.
- - Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là bà Lê Thị Á không có yêu cầu phản tố vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần T1 không có yêu cầu độc lập đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung tranh chấp:
- - Về yêu cầu trả nợ của nguyên đơn và yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bị đơn, thấy rằng:
- Hợp đồng tín dụng số 170/2017/HĐTDTL-CN ngày 21/4/2017 được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng quy định của pháp luật cả về nội dung lẫn hình thức nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Do bà Lê Thị Ánh vi P nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP S(S1) khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Á thanh toán nợ gốc và các khoản nợ lãi được hai bên xác lập trong hợp đồng tín dụng đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
- Theo hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 21/4/2017 thì thời hạn cho vay là 12 tháng (01 năm), do đó xác định ngày kết thúc thời hạn của hợp đồng là ngày 22/4/2018, như vậy ngày này là ngày mà quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm. Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Thời điểm nguyên đơn thực hiện khởi kiện bị đơn tại Tòa án là ngày 26/3/2024 thì thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đã hết. Do đó, yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bị đơn đối với việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là có cơ sở. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp “Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” nên đối với số tiền nợ gốc 5.000.0000.000 đồng là số tiền thuộc sở hữu của nguyên đơn. Do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc nói trên cho nguyên đơn. Đối với số tiền nợ lãi bao gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ, không xem xét, giải quyết.
- - Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn thấy rằng:
- Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba số 16/HĐBĐ-2013 ngày 10/01/2013 có tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 53 (lô 17), tờ bản đồ số 10; tọa lạc tại địa chỉ: Số A đường L, phường P, quận T, thành phố H với phạm vi bảo đảm không vượt quá 5.000.000.000 đồng. Xét, hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Do đó, trong trường hợp bà Lê Thị Á không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP S(S1) thì Ngân hàng TMCP S(S1) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nói trên để thu hồi số tiền nợ gốc theo thỏa thuận của các bên quy định tại hợp đồng thế chấp trong phạm vi bảo đảm là 5.000.000.000 đồng.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Ngân hàng TMCP S(S1) tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp đủ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Tòa án chấp nhận, cụ thể:
- - Bà Lê Thị Á phải chịu: 112.000.000 đồng + ((5.000.000.000 đồng – 4.000.000.000 đồng) x 0,1%) = 113.000.000 đồng.
- - Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 59.319.000 đồng (Năm mươi chín triệu ba trăm mười chín nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004299 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hóa, thành phố H).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tốdân sự;
Áp dụng các Điều 149, khoản 2 Điều 155, 275, 280, 292, 293, 294, 295, 298, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 323, 324, 351, 357, 429, 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) về các khoản tiền lãi trong hạn là 201.232.875 đồng; nợ lãi quá hạn là 6.221.095.890 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 142.784.350 đồng do hết thời hiệu khởi kiện.
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1), buộc Bà Lê Thị Á phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) số tiền nợ gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bà Lê Thị Á không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm trong phạm vi được bảo đảm để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 53 (lô 17), tờ bản đồ số 10, diện tích đất 78,7m²; tọa lạc tại địa chỉ: Số A đường L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H), theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 905512 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 29/11/2005 đứng tên ông Trần T1, theo hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba số 16/HĐBĐ-2013 ngày 10/01/2013, được lập và công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) trong phạm vi bảo đảm là 5.000.0000.000 đồng (Năm tỷ đồng).
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) tự nguyện chịu toàn bộ, đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị Á phải chịu là 113.000.000 đồng (Một trăm mười ba triệu đồng).
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 59.319.000 đồng (Năm mươi chín triệu ba trăm mười chín nghìn đồng) theo Biênthu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004299 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hóa, thành phố H).
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Án sơ thẩm xét xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Thành viên Hội đồng xét xử |
Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 30/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
