Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/DS-ST

Ngày 11 - 11 - 2025.

“Tranh chấp hợp đồng góp vốn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Cường.

Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Liên và Bà Lê Quang Thế.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Luật - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông An Bình Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 11/11/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2025/TLST- DS ngày 16/4/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXX-ST ngày 09/10/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐ-TA ngày 27/10/2025; giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, SN 1983 (Có mặt).
  • Thường trú tại: Đ, thôn Đ, xã B (nay là xã M), tỉnh Hưng Yên.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Anh N, SN 1971 (Có mặt).
  • Thường trú tại: Khu T, phường K (nay là phường H), tỉnh Bắc Ninh.
  • Nơi ở hiện tại: Khu T, phường H, (nay là phường H), tỉnh Bắc Ninh.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Việt D - SN 1995 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: thôn X, xã P (nay là xã T), tỉnh Hưng Yên.
  • * Người làm chứng.
  • Anh Vũ Đức L1, SN: 1995 (Vắng mặt).
  • Thường trú tại: thôn H, thị trấn  (nay là xã Â), tỉnh Hưng Yên,

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại phiên toà của nguyên đơn chị L, người được nguyên đơn ủy quyền anh N trình bày:

Giữa chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Việt D, SN 1995 ở thôn X, xã P (nay là xã T), tỉnh Hưng Yên, có quan hệ làm ăn về bất động sản nên 2 bên có ký hợp đồng góp vốn số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 với nội dung:

Chị L có góp vốn cùng anh D để đầu tư thửa đất số 335, tờ bản đồ số 23 tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên với tổng số tiền vốn góp là 2.245.000.000đồng (Hai tỷ hai trăm bốn lăm triệu đồng).

Với tiến độ góp vốn ngày 09/12/2021 là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng); Ngày 13/12/2021 góp vốn là 1.845.000.000đ (Một tỷ tám trăm bốn lăm triệu đồng); tổng số tiền chị L góp vốn là 2.245.000.000đ (Hai tỷ hai trăm bốn lăm triệu đồng). Tại thời điểm góp vốn thì thửa đất trên có tổng giá trị 4.495.000.000đ (Bốn tỷ bốn trăm chín lăm triệu đồng). Thời hạn góp vốn từ 06 đến 08 tháng, lợi nhuận là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng).

Sau khi góp vốn được một thời gian thì anh D đã chuyển lại tiền góp vốn cho chị L vào các ngày như sau:

Ngày 25/6/2022, số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng); Ngày 07/07/2022, số tiền 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng); Ngày 11/08/2022, số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).

Tổng số tiền anh D đã chuyển lại cho chị là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng). Anh Dũng thanh toán lại tiền cho chị L đều qua số tài khoản của ngân hàng, có tích kê giao dịch chuyển tiền.

Ngày 30/12/2022, chị nhận được số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng chẵn) chuyển qua số tài khoản. Đối với số tiền này là do anh T (là chủ của anh D vay nợ chị L) nên anh T chuyển số tiền này trả nợ riêng khoản vay, không liên quan đến tiền góp vốn giữa chị L với anh D.

Sau nhiều lần yêu cầu nhưng anh D vẫn không trả lại chị được tiền đã góp vốn và tiền lợi nhuận nên chị khởi kiện ra Tòa án yêu cầu anh D phải trả lại chị 2.245.000.000đ và tiền lợi nhuận theo thỏa thuận. Do công việc nhiều, chị L không nhớ rõ là anh D đã chuyển lại cho chị được bao nhiêu tiền. Sau khi đối chiếu, kiểm tra bảng kê anh D đã thanh toán tiền; chị L xác định khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh D phải trả lại chị số tiền đã góp vốn là 1.045.000.000đ (Một tỷ không trăm bốn lăm triệu đồng), chị không yêu cầu trả lợi nhuận.

Ngày 05/9/2025, anh Vũ Đức L1, sinh năm: 1995; số CCCD: [...]; ngày cấp: 19/08/2022, thường trú tại: thôn H, thị trấn  (nay là xã Â), tỉnh Hưng Yên có đến Tòa án làm việc, trình bày được anh Nguyễn Việt D nhờ đem số tiền 400.000.000đ đến Tòa án trả lại cho chị và hẹn đến ngày 22/9/2025, anh D sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại theo hợp đồng góp vốn số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 cho chị L; chị L đã trực tiếp nhận lại số tiền 400.000.000đ có lập biên bản giao nhận tiền lưu trong hồ sơ vụ án.

Bị đơn anh Nguyễn Việt D: Anh Dũng đã đến Tòa án làm việc vào ngày 06/5/2025, khai báo thừa nhận có ký hợp đồng góp vốn số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 với chị Bùi Thị L, cung cấp thông tin về nhân thân cho Tòa án. Sau đó Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh D không đến Tòa án làm việc.

Người làm chứng, anh Vũ Đức L1: Vào ngày 05/9/2025, anh Vũ Đức L1, có đến Tòa án làm việc, trình bày được anh Nguyễn Việt D nhờ đem số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng) đến Tòa án để làm thủ tục trả lại cho chị Bùi Thị L và hẹn đến ngày 22/9/2025, anh D sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại theo hợp đồng góp vốn số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 cho chị L; chị L đã trực tiếp nhận lại số tiền 400.000.000đ có lập biên bản giao nhận tiền lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn chị L trình bày: Tôi yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Việt D trả lại tôi nốt số tiền đã góp vốn theo hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 là 645.000.000₫ (Sáu trăm bốn lăm triệu đồng), tôi không yêu cầu anh D trả lợi nhuận vốn góp theo thỏa thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông N trình bày: Nhất trí với ý kiến, quan điểm của chị L, không bổ sung gì.

Bị đơn anh D vắng mặt lần thứ 2 không có lí do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Hưng Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người được nguyên đơn ủy quyền chấp hành đúng quy định. Bị đơn anh D vắng mặt tại các phiên họp, vắng mặt tại phiên tòa là chưa chấp hành pháp luật theo các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự; diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn chị Bùi Thị L. Buộc anh Nguyễn Việt D phải trả lại chị Bùi Thị L số tiền 645.000.000 đồng còn lại theo hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021. Anh Dũng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Nguyên đơn chị Bùi Thị L khởi kiện anh Nguyễn Việt D có nơi thường trú tại thôn X, xã P (nay là xã T), tỉnh Hưng Yên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 Hưng Yên.
  • - Bị đơn anh D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần tham gia các thủ tục tố tụng (khai báo, làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải); hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lí do là chưa chấp hành pháp luật. Nguyên đơn, người được nguyên đơn ủy quyền chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập anh D đến phiên tòa theo quy định nhưng anh D vẫn vắng mặt không lí do nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 BLTTDS.
  • - Nguyên đơn chị L khởi kiện yêu cầu bị đơn anh D trả lại khoản tiền góp vốn theo hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 nên xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng góp vốn” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

  • 2.1/ Căn cứ hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 được ký kết giữa chị Bùi Thị L với anh Nguyễn Việt D có nội dung:
  • Chị L có góp vốn cùng anh D để đầu tư thửa đất số 335, tờ bản đồ số 23 tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên với tổng số tiền vốn góp là 2.245.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm bốn lăm triệu đồng).
  • Với tiến độ góp vốn ngày 09/12/2021 là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng); Ngày 13/12/2021 góp vốn là 1.845.000.000đ; tổng số tiền chị L góp vốn là 2.245.000.000₫ (Hai tỷ hai trăm bốn lăm triệu đồng). Tại thời điểm góp vốn thì thửa đất trên có tổng giá trị 4.495.000.000đ (Bốn tỷ bốn trăm chín lăm triệu đồng). Việc ký kết hợp đồng giữa 2 bên đều có đủ năng lực hành vi dân sự; hoàn toàn tự nguyện và 2 bên đều thừa nhận nên đã xác lập quan hệ hợp đồng.
  • 2.2/ Yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L:
  • Đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Việt D phải trả nốt số tiền 645.000.000đ còn lại của hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 thì thấy:
  • Theo hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021 có nội dung: Với tiến độ góp vốn ngày 09/12/2021 là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng); Ngày 13/12/2021 góp vốn là 1.845.000.000đ (Một tỷ tám trăm bốn lăm triệu đồng); tổng số tiền chị L góp vốn là 2.245.000.000đ (Hai tỷ hai trăm bốn lăm triệu đồng).
  • Số tiền góp vốn đã được anh D chuyển trả lại cho chị L vào: Ngày 25/6/2022, số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng); Ngày 07/07/2022, số tiền 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng); Ngày 11/08/2022, số tiền 200.000.000vnđ (Hai trăm triệu đồng) đều qua tài khoản ngân hàng đã được chị L xác nhận và có chứng từ xác nhận giao dịch. Tổng đã trả được 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng).
  • Ngày 05/9/2025, anh Vũ Đức L1, sinh năm: 1995 được anh D nhờ đem tiền trả cho chị L 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng).
  • Tổng 02 lần, anh D đã trả được cho chị L là 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng).
  • Chị L đã rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị buộc anh D trả lại số tiền còn lại là 645.000.000đ (Sáu trăm bốn lăm triệu đồng) và không yêu cầu anh D trả tiền lợi nhuận thì thấy: Qua chứng từ giao dịch các ngày 25/6/2022; 07/7/2022; 14/8/2022 và ngày 05/9/2025 xác định sau khi ký kết hợp đồng góp vốn thì anh D đã thanh toán lại được cho chị L được tổng số tiền là 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng); số tiền góp vốn còn lại là 645.000.000đ (Sáu trăm bốn lăm triệu đồng). Sự việc góp vốn, thanh toán tiền góp vốn và ngày 05/9/2025, anh D đã nhờ anh L1 đem số tiền 400.000.000đ đến Tòa án để thanh toán cho chị L đã thể hiện việc góp vốn là có thật, có sự thanh toán của anh D, anh D nhờ anh L1 đến Tòa án thanh toán tiền góp vốn là sự thực, sự kiện không cần phải chứng minh. Nay chị L yêu cầu anh D phải thanh toán nốt số tiền 645.000.000đ và không yêu cầu lợi nhuận là có căn cứ cần được chấp nhận.
  • 2.3/Đối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện và số tiền lợi nhuận.
  • Xét việc xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và không yêu cầu trả lợi nhuận của chị L là hoàn toàn tự nguyện có căn cứ, nên cần chấp nhận đình chỉ yêu cầu này.
  • Từ những phân tích nêu trên có đủ căn cứ xác định cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L, buộc anh Nguyễn Việt D phải trả lại số tiền 645.000.000₫ (Sáu trăm bốn lăm triệu đồng) còn lại theo hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn chị L được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bị đơn anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản tiền phải trả theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 229; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Điều 166, 215, 274, 275, 278, 280, 357, 504, 505, 507 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị L.

    Buộc anh Nguyễn Việt D phải thanh toán trả chị Bùi Thị L số tiền 645.000.000 đồng (Sáu trăm bốn lăm triệu đồng) còn lại theo hợp đồng số 09-12/HĐGV/2021 ngày 17/12/2021.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền người phải thi hành án chậm thi hành án phải chịu lãi suất hàng tháng theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu đối với khoản tiền lợi nhuận của chị Bùi Thị L.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Việt D phải chịu 29.800.000 (Hai mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại chị Bùi Thị L số tiền tạm ứng án phí 38.000.000₫ (Ba mươi tám triệu đồng) theo biên lai thu số 0002515 ngày 16/4/2025 tại Thi hành án dân sự huyện Khoái Châu (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 Hưng Yên).

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn, người được bị đơn ủy quyền được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND KV3 Hưng Yên;
  • - Phòng THADSKV3 Hưng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 HƯNG YÊN về tranh chấp hợp đồng góp vốn

  • Số bản án: 30/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp vốn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger