Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/DS-ST

Ngày: 10/6/2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận

Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ngô Thị Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 24/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 20/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (N); Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Trưởng bộ phận – Phòng xử lý nợ miền B - Trung tâm xử lý nợ - N; ông Võ Đức Nhật H1, ông Dương Hồ V và bà Vũ Thị Hồng P, cùng chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ – Phòng XLN Miền B - Trung tâm xử lý nợ - N; địa chỉ liên hệ: Số A đường N, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo giấy ủy quyền số 1855/2024/UQ-HĐQT.NCB ngày 12/9/2024 và Giấy ủy quyền số 6715/2024/GUQ-BĐH.NCB ngày 07/10/2024). (Bà P có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Tiễn T1, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số K dường Dũng S, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng và bà Trịnh Thị Thu T2, sinh năm: 1990; địa chỉ: Tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q – chi nhánh Đ theo Hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 006/20/HĐCV-9359 ngày 09/01/2020, cụ thể: Số tiền vay: 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 84 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân lần đầu tiên. Lãi suất trong hạn: Lãi suất kỳ đầu tiên: LSV kể từ ngày giải ngân cho đến ngày 09/01/2021 là 9%/năm. Lãi suất kỳ tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ lần và bằng lãi suất cơ sở + 3,7%/năm. Lãi quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Mục đích vay: Mua xe ô tô KIA SOLUTO 1.4 SAT. BKS 43A-528.32.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 đã ký với N Chi nhánh Đ - Hợp đồng thế chấp ô tô số 005/20/HĐTC-9359 ngày 09/01/2020, Tài sản bảo đảm là: Xe ô tô con hiệu KIA, loại xe SOLUTO 1.4 AT, biển kiểm soát: 43A-528.32, màu sơn: xanh, số chỗ: 05, số khung: RNYAC41A4KC175318, số máy: G4LCK1165592, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 087354 do Công an T4 cấp cho, ông Trần Tiễn T1 ngày 03/01/2020. Tài sản bảo đảm nêu trên đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định pháp luật.

Tính đến hết ngày 10/6/2025, ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 đã trả nợ cho N tổng số tiền là: 278.382.233 đồng, bao gồm: 168.904.071 đồng nợ gốc và 109.478.162 đồng nợ lãi.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền là: 278.382.233 đồng, bao gồm: 168.904.071 đồng nợ gốc và 109.478.162 đồng nợ lãi (tính đến hết ngày 10/6/2025). Sau đó, ông T1 và bà T2 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông T1 và bà T2 vẫn tiếp tục không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 và bà T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/6/2025 là 206.121.503đ (trong đó: nợ gốc là: 161.095.929đ; nợ lãi trong hạn là 27.930.579đ; lãi quá hạn trên gốc là: 14.381.837đ và lãi chậm trả lãi là 2.713.517đ) và yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 11/6/2025 cho đến khi ông T1 và bà T2 thanh toán xong khoản nợ và các khoản phí cho Ngân hàng.

Trường hợp ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 không thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sở hữu 01 Xe ô tô con hiệu KIA, loại xe SOLUTO 1.4 AT, biển kiểm soát: 43A – 528.32, màu sơn: xanh, số chỗ: 05, số khung: RNYAC41A4KC175318, số máy: G4LCK1165592, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 087354 do Công an T4 cấp cho, Ông Trần Tiên T3 ngày 03/01/2020 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

* Bị đơn ông Trần Tiễn T1 trình bày: Ông và bà T2 có nợ ngân hàng N số tiền: 186.931.629đ (tạm tính đến ngày 30/9/2024). Hiện nay ông gặp khó khăn về tài chính, ông sẽ cố gắng thu xếp tất toán số tiền trên cho ngân hàng chậm nhất đến ngày 31/3/2025 sẽ thanh toán cho ngân hàng.

* Bà Trịnh Thị Thu T2: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự ; các Điều 299, Điều 303, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử:

- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu thanh toán nợ lãi chậm trả.

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền tạm tính đến ngày 10/6/2025 là nợ gốc: 161,095,929đ, nợ lãi trong hạn: 27,930.579đ, nợ lãi quá hạn: 14.381.837đ và lãi tiếp tục được tính kể từ 11/6/2025 theo thoả thuận cho đến khi ông T1 và bà T2 thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng. Xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp ông T1, bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm.

- Ông T1 và bà T2 phải chịu án phí, chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[1.3] Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về lãi chậm trả lãi đối với số tiền: 2.713.157đ. Xét thấy, việc người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Tại phiên toà hôm nay, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 10/6/2025 tổng số tiền là 203.408.346đ (trong đó: nợ gốc là: 161.095.929đ; nợ lãi trong hạn là 27.930.579đ; lãi quá hạn trên gốc là: 14.381.837đ).

Căn cứ lời khai của các đương sự trong vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ thể hiện: Ngày 09/01/2020, Ngân hàng TMCP Q - chi nhánh Đ ký kết Hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 006/20/HĐCV-9359 với ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2, cụ thể: Số tiền vay: 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 84 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân lần đầu tiên. Lãi suất trong hạn, lãi suất kỳ đầu tiên, LSV kể từ ngày giải ngân cho đến ngày 09/01/2021 là 9%/năm. Lãi suất kỳ tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần và bằng lãi suất cơ sở + 3,7%/năm. Lãi quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Mục đích vay: Mua xe ô tô KIA SOLUTO 1.4 SAT. BKS 43A-528.32.

Hội đồng xét xử nhận thấy, tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết các hợp đồng tín dụng và các thủ tục vay vốn tại Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội. N đã giải ngân đủ số tiền vay theo hợp đồng đã ký, ông T1 và bà T2 đã ký nhận đủ số tiền vay. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 và bà T2 đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền 278.382.233đ, bao gồm: 168.904.071đ nợ gốc và 109.478.162đ nợ lãi. Nhưng từ ngày 10/6/2025 cho đến nay, ông T1 và bà T2 đã không thực hiện trả nợ cho N. Như vậy, N đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, ông T1 và bà T2 không thực hiện việc thanh toán cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 006/20/HĐCV-9359 tổng số tiền là tổng số tiền là 203.408.346đ trong đó: nợ gốc là: 161.095.929đ; nợ lãi trong hạn là 27.930.579đ; lãi quá hạn trên gốc là: 14.381.837đ (tạm tính đến ngày 10/6/2025) và tuyên tiền lãi phát sinh ngày tiếp theo là phù hợp với quy định tại các Điều 91, Điều 92 và Điều 97 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về tài sản thế chấp: Xét, Hợp đồng thế chấp ô tô số 005/20/HĐTC-9359 ngày 09/01/2020, Tài sản bảo đảm là: Xe ô tô con hiệu KIA, loại xe SOLUTO 1.4 AT, biển kiểm soát: 43A – 528.32, màu sơn: xanh, số chỗ: 05, số khung: RNYAC41A4KC175318, số máy: G4LCK1165592, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 087354 do Công an T4 cấp cho, Ông Trần Tiễn T1 ngày 03/01/2020. Tài sản bảo đảm nêu trên đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng thế chấp được ký kết giữa NCB với bên thế chấp là ông T1 và bà T2 là hoàn toàn tự nguyện, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật, mặt khác trong hợp đồng thế chấp đã nêu rõ nội dung hợp đồng thế chấp và phạm vi bảo đảm là bên thế chấp tự nguyện thế chấp toàn bộ tài sản thuộc quyền sử dụng và quyền sở hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay bao gồm: nợ gốc, lãi tiền vay trong hạn và các chi phí phát sinh liên quan của số tiền vay theo Hợp đồng giữa Ngân hàng và các bên.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Vì vậy, trường hợp ông T1 và bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì NCB có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mại tài sản thế chấp mà các bên đã ký kết để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại các Điều 299 và Điều 303 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì N phải làm các thủ tục xóa thế chấp và trả lại trên là Giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô cho ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn là ông T1 và bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền ông T1 và bà T2 phải chịu là 5% x 203.408.346đ = 10.170.417đ (Mười triệu một trăm bảy mươi nghìn bốn trăm mười bảy đồng)

Hoàn trả lại cho NCB số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: số tiền 3.000.000đ, ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 phải chịu nhưng Ngân hàng TMCP Q đã nộp tạm ứng và đã chi nên ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền 3.000.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 97, Điều 147, Điều 227, Điều 244 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Điều 299, Điều 303, Điều 322, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tổng số là 203.408.346đ trong đó: nợ gốc là: 161.095.929đ; nợ lãi trong hạn là 27.930.579đ; lãi quá hạn trên gốc là: 14.381.837đ (tính đến ngày 10/6/2025)
    1. Kể từ ngày 11/6/2025 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi trên số nợ gốc và lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 006/20/HĐCV-9359.
  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì tài sản quyền sở hữu là 01 xe ô tô nhãn hiệu: KIA, loại xe SOLUTO 1.4 AT, biển kiểm soát: 43A – 528.32, màu sơn: xanh, số chỗ: 05, số khung: RNYAC41A4KC175318, số máy: G4LCK1165592, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 087354 do Công an T4 cấp cho, Ông Trần Tiên T3 ngày 03/01/2020 theo Hợp đồng thế chấp ô tô số 005/20/HĐTC-9359 ngày 09/01/2020 được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q phải làm các thủ tục xóa thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 087354 Công an T4 cấp cho ông Trần Tiên T3 ngày 03/01/2020 theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.

  3. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 có nghĩa vụ trả lãi chậm trả lãi số tiền: 2.713.157đ.
  4. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: 10.170.417đ (Mười triệu một trăm bảy mươi nghìn bốn trăm mười bảy đồng) ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 phải chịu.
    2. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 4.673.291đ cho Ngân hàng TMCP Q đã nộp theo biên lai thu số 0006074 ngày 27/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  5. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền 3.000.000đ.
  6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Huyền Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 30/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q và bị đơn là ông Trần Tiễn T1 và bà Trịnh Thị Thu T2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger