Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/DS-PT

Ngày 18 - 3 - 2025

V/v tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tân

Các Thẩm phán: Ông Trương Thanh Dũng

Bà Giang Thị Cẩm Thuý

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 181/2024/TLPT-DS, ngày 18/11/2024 về việc: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐ-PT, ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông T: Ông Lê Văn B, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà S: Ông Nguyễn Bằng L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  1. Anh Trần Nhật C, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1967. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  3. Anh Lê Văn H, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  4. Anh Lê Văn N, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  5. Chị Lê Thị O, sinh 1995. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  6. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Ấp N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T3 – chức vụ: Chủ tịch

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn C1 chức vụ Phó chủ tịch (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953. Địa chỉ: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Ngày 13/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân có Quyết định số 28/QĐ-VKS-DS, về việc kháng nghị toàn bộ Bản án số 48/2024/DS-ST, ngày 30/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Hồng Dân.

(Ông B, ông L, anh C có mặt; UBND huyện H có đơn xin vắng mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Lê Văn B trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ông T tên Lê Văn H1 (ông H1 chết năm 2007) nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn C2 và bà Thái Thị S1 vào ngày 08/10/1990 với diện tích là 5000m² tại ấp N, xã V, huyện H, tỉnh Minh Hải (nay thuộc ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu). Khi chuyển nhượng có làm giấy tay và có xác nhận của chính quyền địa phương là ông Phan Thanh H2 và ông Phan Văn H3, có sự chứng kiến của ông Trương Văn D (ông D là cháu ông C2), ông Trương Văn C3 (ông C3 là con ông C2, hiện ông C3 đã chết). Khi cha ông T nhận chuyển nhượng phần đất này của ông C2 thì bà Nguyễn Thị S đã đang ở nhờ trên đất. Sau khi chuyển nhượng đất thì bà S có hỏi ông cha ông T có cho bà S tiếp tục ở trên phần đất này hay là dời đi nơi khác, do bà S không có chỗ khác cất nhà ở, hoàn cảnh lại khó khăn nên cha ông đồng ý cho bà S tiếp tục ở

trên phần đất hiện đang tranh chấp. Việc cha ông cho bả Sên mượn đất không có làm giấy tờ gì mà chỉ nói miệng. Trong thời gian cho mượn đến năm 2004, cha ông T có nhiều lần đến đòi bà S giao trả đất nhưng bà S không đồng ý. Đến năm 2004 cha ông có nhu cầu sử dụng phần đất này nên có yêu cầu bà S giao trả đất, ngày 27/02/2004 cha ông có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết thì bà S trình bày là chưa có chỗ khác cất nhà ở nên xin cha ông T cho mượn ở thêm một thời gian.

Đồng thời, bà S có hỏi cha ông T cho chôn cất chồng bà S phía sau liền kề phần đất tranh chấp này, cha ông đồng ý và giao kèo với bà S khi nào bà S có đi chỗ khác ở thì phải trả lại đất cho cha ông T chứ không được tặng cho, chuyển nhượng hay cầm cố...cho ai khác. Tuy cha ông T là người trực tiếp nhận chuyển nhượng của ông C2 nhưng cha ông để cho ông Lê Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1997. Năm 2007, ông T làm thủ tục cấp đổi lại quyền sử dụng phần tại thửa số 7 tờ bản đồ số 7 và thừa số 15 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Ông T có nhu cầu sử dụng phần đất nên yêu cầu bà S trả đất nhưng bà S không trả nên phát sinh tranh chấp.

Nay, ông Lê Văn T yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị S có nghĩa vụ tháo dỡ di dời căn nhà và các kiến trúc khác có trên phần đất để trả cho ông T diện tích đất qua đo đạc thực tế 252,6m² tại thửa số 7, tờ bản đồ số 7 và diện tích 80,8m2 tại thửa số 15, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu do hộ ông Lê Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T đồng ý hỗ trợ công cải tạo, bồi đắp và di dời nhà cho bà S 20.000.000 đồng.

Theo lời trình bày của ông Nguyễn Bằng L là người đại diện theo uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị S trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của nhà nước quản lý, thời điểm đó đất hoang hóa không có người sử dụng, do gia đình bà S khó khăn không có đất cất nhà ở nên khoảng vào năm 1982, bà S nhờ ông Phan Thanh H2 (5 H2) lúc đó là Bí thư ấp X có trình với Ủy ban thị trấn N cho phép gia đình bà S khai phá phần đất này để sử dụng cất nhà ở. Việc ông 5 H4 cho phép gia đình bà S khai phá để sử dụng phần dất cất nhà ở có sự đồng ý của ông Tăng Tấn N1 lúc đó là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N. Sau này ông Trương Văn C2 đi làm ăn xa trở về thì có sang bán cho gia đình ông Lê Văn T một phần đất nhưng bà S không biết diện tích là bao nhiêu, phần đất ông C2 sang cho gia đình ông T là phần đất nằm cặp bên với phần đất gia đình bà S đang ở. Khi ông C2 sang đất cho ông H1 thì gia đình bà S đã cất nhà ở trước đó, khi giao dịch thì hai bên không có ý kiến gì đối với việc gia đình bà S cất nhà ở. Sau này khi phát sinh tranh chấp thì bà S có nhờ ông H4 và ông N1 xác nhận nguồn gốc đất, thì ông H4 và ông N1 đều xác nhận nguồn gốc đất là do ông H4 và ông N1 đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn N cấp cho gia đình bà S. Việc gia đình bà S ở trên phần

đất này có những người sống gần phần đất đều biết, gia đình ông T cũng không nói gì. Từ khi được cấp đất thì gia đình bà S sử dụng ổn định, đến năm 2002 do xáng múc con kênh rộng lớn làm tăng giá trị phần đất nên ông T mới phát sinh tranh chấp phần đất này, chính quyền địa phương đã tiến hành giải quyết cho hai bên, có cặm trụ đá. Tuy nhiên phía ông T vẫn tranh chấp, trên phần đất hiện có căn nhà của gia đình bà S đang ở gồm có: Bà Nguyễn Thị S, chị Huỳnh Ngọc T1, anh Trần Nhật C (chồng chị T1) và con Trần Hữu T4, sinh năm 2019; trên phần đất còn có ngôi mộ của chồng bà S. Nay, ông T khởi kiện yêu cầu gia đình bà S tháo dỡ nhà trả toàn bộ diện tích đất thì bà S không đồng ý, vì đất này nhà nước cấp cho gia đình bà S ở từ năm 1982 cho đến nay. Bà S yêu cầu Toà án giải quyết huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lê Văn T đối với diện tích đất đo đạt thực tế nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2, anh Lê Văn H, anh Lê Văn N và chị Lê Thị O trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Lê Văn T. Không có yêu cầu gì khác.

Các lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Ngọc T1 và anh Trần Nhật C trình bày: Thống nhất lời trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị S. Không yêu cầu gì khác.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 100, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013. Căn cứ Điều 2; Điều 6; Điều 7, Điều 7a; Điều 9; Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị S giao trả quyền sử dụng đất đã cho mượn. Buộc bà Nguyễn Thị S có nghĩa vụ giao cho ông Lê Văn T các diện tích đất qua đo đạc thực tế, có kích thước, vị trí và hiện trạng như sau:

Thửa số 01: Diện tích 252,6m² thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu do hộ ông Lê Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hướng Đông giáp phần đất không tranh chấp của ông Lê Văn T có cạnh dài 7,3m; Hướng Tây giáp kênh thủy lợi có cạnh dài 24,1m; Hướng Nam giáp phần thừa số 02 có cạnh dài 11m; Hướng Bắc giáp đường nhựa có cạnh dài 10,65m.

Thửa số 02: Diện tích 80,8m² thuộc thửa số 15, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu do hộ ông Lê Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất có vị trí, số đo:

Hướng Đông giáp phần đất không tranh chấp của ông Lê Văn T có cạnh dài 21,3m; Hướng Tây giáp kênh thủy lợi có cạnh dài 7,7m; Hướng Nam giáp phần không tranh chấp của ông Lê Văn T có cạnh dài 10,7m; Hướng Bắc giáp thửa số 01 có cạnh dài 11m. Mãnh trích đo địa chính số 51-2022 và phụ chú kèm theo mãnh trích đo của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, là một phần không thể thiếu của bản án.

Buộc bà Nguyễn Thị S, chị Huỳnh Ngọc T1 và anh Trần Nhật C cùng có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời:

Căn nhà chính: ngang 8.5m dài 11m, móng cuốn nền khung sườn cột gỗ địa phương, vách thiếc, nền tráng xi măng, mái tôn kẽm đỡ mái gỗ địa phương, mặt dựng xây bằng bê tông cốt thép ngang 5m cao 2,6m.

Căn nhà phụ: ngang 5m dài 8m, móng cuốn nền, khung sườn cột gỗ địa phương, vách lá, nền tráng xi măng, mái lá đỡ mái gỗ địa phương; 01 mái che ngang 3m dài 15m khung sườn cột gỗ địa phương, vách thiếc, nền đất, mái lá đỡ mái gỗ địa phương; 01 mái che dài 3,5m ngang 2m, khung sườn cột gỗ địa phương, mái thiếc đỡ mái gỗ địa phương, nền tráng xi măng; 01 sàn bằng bê tông cốt thép, 06 cột đà bằng bê tông cốt thép, nền tráng xi măng diện tích 4,5m²; sân xi măng ngang 8.7m dài 5.4m 01 đồng hồ điện; 01 đồng hồ nước; 01 bàn thờ ông thiên bằng bê tông cốt thép.

Bà Nguyễn Thị S, chị Huỳnh Ngọc T1, anh Trần Nhật C có quyền lưu cư trong thờ hạn 06 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  1. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn T hỗ trợ công cải tạo, bồi đắp, quản lý đất và chi phí di dời nhà là 20.000.000 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của bà S yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho hộ ông Lê Văn T.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau khi xử sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị S kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Lê Văn T.

Ngày 13/9/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân kháng nghị, đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc

Liêu. Với lý do: Có căn cứ xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc nhà nước giao cho bà S khai phá, cất nhà ở ổn định từ năm 1982; khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T, cơ quan chuyên môn không đo đạc thực tế nên cấp không đúng đối tượng sử dụng và đương sự có yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông Lê Văn T nhưng cấp sơ thẩm xem xét giải quyết luôn là không đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa, người kháng cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có kháng cáo, ông Nguyễn Bằng L trình bày tranh luận: Có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị S, lý do: Nguyên đơn kiện đòi đất cho mượn nhưng không có giấy tờ gì chứng minh là có cho bà S mượn đất. Phần đất tranh chấp đã cấp cho nguyên đơn ông Lê Văn T nhưng bị đơn bà S đã ở ổn định trên đất từ năm 1982 đến nay. Do đó, không có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là đất của ông Lê Văn T cho bà S mượn.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Lê Văn B trình bày tranh luận: Việc gia đình ông T nhận chuyển nhượng phần đất 5000m² của ông Trương Văn C2, bà Thái Thị S1 vào năm 1990 có làm giấy tay và có xác nhận của chính quyền. Ông T cũng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997, cấp đổi năm 2007. Tuy việc gia đình ông T cho bà S mượn đất cất nhà không có giấy tờ, nhưng những người chứng kiến, chính quyền địa phương đều biết là đất của gia đình ông T cho bà S mượn ở.

Phát biểu tranh luận và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Kiểm sát viên không có ý kiến bổ sung thêm về thủ tục tố tụng.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị S và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm giao hồ sơ Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết sơ thẩm lại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về sự có mặt của đương sự: Tại phiên tòa ông Lê Văn B, ông Nguyễn Bằng L, anh Trần Nhật C có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T2, anh H, chị O và UBND huyện H có đơn xin vắng mặt; chị T1 vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng quy định pháp luật.

[1.2] Hình thức, nội dung đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị S; thời hạn kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Nội dung

[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị S, nhận thấy:

Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có tổng diện tích 333,4 m²; trong đó 252,6m² tại thửa số 7, tờ bản đồ số 7 và 80,8m2 tại thửa số 15, tờ bản đồ số 7, cùng tọa lạc tại ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu do hộ ông Lê Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất xác định bị đơn bà Nguyễn Thị S đã cất nhà ở trên phần đất tranh chấp khoảng năm 1981 - 1982 trước khi ông H1 (cha của ông T) nhận chuyển nhượng phần đất của ông C2.

Nguyên đơn ông T xác định ông Lê Văn H1 nhận chuyển nhượng đất của ông Trương Văn C2, bà Thái Thị S1 vào ngày 08/10/1990, khi nhận chuyển nhượng đã có căn nhà của bà S trên đất; do bà Nguyễn Thị S ở nhờ trên đất của ông C2. Sau khi chuyển nhượng đất thì bà S có hỏi ông Lê Văn H1 có cho bà S tiếp tục ở trên phần đất này, do thấy bà S không có chỗ khác cất nhà ở, hoàn cảnh lại khó khăn nên ông Lê Văn H1 đồng ý cho bà S tiếp tục ở. Tuy nhiên, nguyên đơn xác định việc mượn đất chỉ nói miệng, không có giấy tờ chứng minh.

Căn cứ “giấy nhượng quyền đất” có nội dung: “Bà Thái Thị S1 là vợ ông Trương Văn C2 có nhượng đất lại cho ông Lê Văn H1 tổng cộng diện tích đất là 5 công (năm công) bằng 5000m², giá 3 chỉ vàng 24k (trong số 3 chỉ trên gồm tiền hoa màu trên mặt đất là 260 ngàn đồng và số lúa ứng trước 20 giạ là 280 ngàn, tổng cộng bằng 540 ngàn đồng). Vị trí đất nằm giáp kênh thủy lợi và giáp kênh giới bà Hai C4, phía sau giáp với ông Út S2”. Giấy sang nhượng có xác nhận của ông Phan Thanh H2 và Phan Văn H3.

Như vậy, ông Lê Văn H1 nhận chuyển nhượng đất của bà S1 tổng diện tích là 5 công (bằng 5000m²) nhưng trong đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/10/1993 của ông T gồm 02 thửa, trong đó: thửa thứ 1 diện tích là 5.800m² và thửa thứ 2 diện tích là 3.150m² được phê duyệt cấp 02 thửa đất với tổng số diện tích là 8.950m². Hồ sơ vụ án chỉ thu được giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất cấp cho ông Lê Văn T “không có đề ngày tháng năm” cấp theo quyết định số 525 ngày 27/8/1997 của UBND huyện H được quyền sử dụng 5.800m² tại thửa đất số 052, tờ bản đồ số 03, trong đó có 300m² đất thổ cư và 5.500m² đất lập vườn. Việc kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này có diện tích cũng lớn hơn nhiều so với diện tích đất mà ông Lê Văn H1 nhận chuyển nhượng của bà Thái Thị S1 là 800m², như vậy phần đất chênh lệch 800m² này từ đâu mà có thì nguyên đơn không chứng minh được. Trong khi đó tờ tự khai ngày 20/6/2024 của ông Phan Thanh H2 là Bí thư Chi bộ ấp Xẻo Quao thời điểm từ năm 1981 và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cũng thừa nhận ngoài phần đất mà ông Lê Văn H1 đã nhận chuyển nhượng của bà Thái Thị S1 là 5.000m² nêu trên thì ông Lê Văn H1, ông Lê Văn T không có nhận chuyển nhượng đất của ai khác và ông Lê Văn H1 cũng không có đất nào khác tại đây.

Ngoài ra, căn cứ vào lời trình bày của những người làm chứng thể hiện:

Lời trình bày của người làm chứng ông Tăng Tấn N1 ngày 09/5/2024 (bút lục 91) xác định: ông N1 làm Chủ tịch UBND thị trấn N từ tháng 10 năm 1981, tại thời điểm đó ông Phan Thanh H2 làm Bí thư chi bộ ấp X có báo trường hợp của vợ chồng bà S, ông T5 không có đất ở, nên có hỏi xin một phần đất để cất nhà ở, ông H2 nói đối diện nhà của ông H2 có phần đất thuộc quyền quản lý của nhà nước để hoang nên ông H2 xin cấp cho bà S phần đất này. Ông Tăng Tấn N1 trực tiếp xuống xem phần đất này ngang khoảng 10m chạy dài khoảng chục mét, dưới sông là đất ông Phan Thanh H2. Ông Lê Văn H1 có nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn C2 một phần đất cặp với phần đất này, còn phần đất bà S đang ở thuộc quyền quản lý của UBND thị trấn N tại thời điểm đó.

Tờ tự khai của người làm chứng ông Phan Thanh H2 ngày 03/5/2024 (bút lục 93) xác định: ông H2 làm Bí thư Chi bộ ấp X khoảng năm 1980, 1981, do vợ chồng bà S, ông T5 không có đất ở nên ông H2 có xin ý kiến của ông N1 đồng ý cho vợ chồng bà S, ông T5 phần đất cạnh Trường học ấp X là đất hoang hóa, không ai canh tác, bà S, ông T5 tự bồi đắp cất nhà ở ổn định đến nay, vị trí đất từ cạnh trường học ra tới kênh thủy lợi và từ trước ra sau. Năm 1990, ông có ký xác nhận “Giấy nhượn quyền đất” ngày 08/10/1990 giữa ông Lê Văn H1 và vợ chồng ông C2, bà S1 là có sự thật. Tuy nhiên, thời điểm đó ông xác định “giấy nhượng đất” là 5000m² cạnh ranh đất với trường học và nhà ông T5, bà S, chứ không có việc ông H1 mua đất của ông C2 trên đất có nhà ông T5, bà S ở.

Ông Phan Văn H3 (Phó Chủ tịch UBND thị trấn N khoảng năm 1989 - 1994) và ông Dương Văn N2 (là hàng xóm của ông Lê Văn H1) cũng đều biết nguồn gốc đất trên là đất hoang hóa, ông Phan Văn H3 lúc đó có xác nhận giấy nhượng quyền đất giữa ông Lê Văn H1 với bà Thái Thị S1 năm 1990 thì lúc đó đã có trường học, đã có nhà bà S, việc mua bán đất không bao gồm đất trường học và nhà bà S.

Như vậy, lời khai của những người làm chứng phù hợp với lời trình bày của bị đơn về nguồn gốc đất tranh chấp là đất hoang hóa, cạnh giáp với trường học Xẻo Quao được ông H2, ông N1 đại diện chính quyền địa phương giao cho bà S cất nhà ở từ năm 1980, 1981, năm 1990 ông Lê Văn H1 nhận chuyển nhượng đất của ông Trương Văn C2, bà Thái Thị S1 là cặp với phần đất của bà S đã cất nhà ở từ trước.

Xét thấy, phần đất tranh chấp tại thời điểm ông Lê Văn H1 nhận chuyển nhượng của ông C2, bà S1 thì đất chưa được cấp giấy; trong hồ sơ cũng không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh phần đất tranh chấp là đất của bà S1, ông C2, đồng thời cũng như không chứng minh được việc bà S1, ông C2 đã từng sử dụng.

Trong khi đó từ khi được ông Tăng Tấn N1, ông Phan Thanh H2 cho đất khoảng năm 1980 – 1981 thì gia đình bà Nguyễn Thị S đã cất nhà ở từ đó cho đến nay và đã nhiều lần cất nhà lại, sửa chữa. Từ năm 1982 đến năm 2004 là 22 năm, bà S đã ở ổn định, công khai liên lục. Từ khi ông Lê Văn H1 nhận chuyển nhượng đất của bà Thái Thị S1 năm 1990; năm 1997 ông T được cấp giấy lần đầu; năm 2007 làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nguyên đơn không có sử dụng đất tranh chấp; đến khi phát sinh tranh chấp năm 2004 là 14 năm thì ông Lê Văn H1 mới đi đòi lại đất của bà S.

Cấp sơ thẩm căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 27/02/2004 do nguyên đơn cung cấp có nội dung thể hiện cho bà S được chôn cất chồng trên phần đất này và cho ở chứ không được sang bán, cầm cố cho ai, bà S còn xin ông Hai N3 rộng phần đất ra phía sau thêm 3m, các bên có ký tên vào biên bản; căn cứ vào bản tự khai của ông Đồng Minh N4 và ông Nguyễn Thành P là thành viên tổ hòa giải ngày 27/02/2004 xác định tổ hòa giải có bàn bạc, xem xét cho bà S mượn tạm phần đất để ở khi ông H1 có nhu cầu thì phải trả lại. Tuy nhiên, qua xem xét biên bản hòa giải ngày 27/02/2004 nhận thấy nội dung biên bản không thể hiện có nội dung bà S thừa nhận có mượn đất của nguyên đơn.

Ngoài ra, căn cứ vào biên bản cặm ranh đất ngày 20/7/2011 (BL 45); biên bản cặm ranh dựa trên biên bản hòa giải ngày 05/08/2010 giữa ông T và bà S. Tuy nhiên, hồ sơ không thu thập được biên bản hòa giải ngày 05/8/2010 nhưng căn cứ vào biên bản cặm ranh có nội dung giữa ông T với bà S đã thống nhất cặm ranh đất, lấy vách tường của nhà trường đo qua 2,2m...hiện trạng đo đất bên bà S có cất một nền nhà lấn qua phần đất đo đạc, bề ngang 0,9m, bề dài khoảng 04m, Huỳnh Công T6 con ruột bà S hứa khi nào cây cất nhà hiện trạng hư sửa trả lại phần đất đã lấn chiếm; biên bản được các bên ông T, bà S thống nhất ký tên. Như vậy, nguyên đơn ông T đã xác định bà S có quyền sử dụng đối với phần đất đang ở nên tiến hành cặm ranh đất đồng thời xác định bà S chỉ lấn phần diện tích bề ngang 0,9m, bề dài khoảng 04m.

Nguyên đơn ông T xác định phần đất tranh chấp cho bà S mượn ở nhờ nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh. Tại công văn số 1421 ngày 29/8/2024 của UBND huyện H cung cấp thửa đất số 52, tờ bản đồ số 03 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T cơ quan chuyên môn không đo đạc thực tế thửa đất mà trích lục thửa đất trên bản đồ địa chính, diện tích đất được cấp giấy chứng nhận lại nhiều hơn diện tích ông H1 nhận chuyển nhượng từ ông C2. Trong khi đó, phần đất tranh chấp đã được bị đơn bà S cất nhà ở từ 1980 – 1981 đến nay; nguồn gốc đất bị đơn trình bày phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Do đó, việc cấp giấy cho ông Lê Văn T là không đúng đối tượng sử dụng, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn đối với phần đất tranh chấp.

Ngoài ra, xét thấy quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn xác định chỉ có nhà và đất tranh chấp là nơi ở duy nhất; trong khi nguyên đơn từ trước đến nay không có sử dụng phần đất tranh chấp. Nhưng, việc cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không tuyên trả giá trị mà buộc bị đơn phải tháo dỡ, di dời các tài sản trên đất bao gồm nhà chính, nhà phụ, mái che, sân si măng; đồng hồ nước, nhà vệ sinh,...là không phù hợp và khó thi hành.

[2.2] Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát, nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà S có đơn yêu cầu phản tố; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T đối với diện tích đất tranh chấp do UBND huyện H cấp ngày 26/7/2007 cho hộ ông Lê Văn T. Xét thấy, do bị đơn có yêu cầu phản tố, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì thẩm quyền giải quyết vụ án là của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu. Do đó, việc Toà án nhân dân huyện Hồng Dân giải quyết vụ án là vi phạm thẩm quyền. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện KSND huyện H.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Nguyễn Thị S và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Huyện Hồng Dân, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

[4] Nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị S không phải chịu.

Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sự dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị S không phải chịu.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - TAND huyện Hồng Dân;
  • - CCTHADS huyện Hồng Dân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 30/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger