|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/DS-PT
Ngày 11 - 02 - 2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung
Ông Đặng Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Liên, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 321/2024/TLPT-DS, ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 171/2024/DS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 235/2024/QĐ-PT, ngày 24 tháng 12 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Cô L, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn L1, sinh năm 1987. Địa chỉ: số G, khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)
- Bị đơn: Ông Thạch Se N, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Thái Sâm B, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số A, khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Thạch Thị P, sinh năm 1941 (chết năm 2023)
- Ông Thạch Rặc Sa M, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Bà Thạch Thị S, sinh năm 1973 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Thạch Thị P:
- Ông Thạch K, sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Giồng Lức, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
- Ông Thạch Sô N1, sinh năm 1967 (vắng mặt)
- Ông Thạch Rặc Sa M, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh
Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Thạch Thị Sô Ri V, sinh năm 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Thạch Thị Cô L, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh
- Ngân hàng TMCP Đ- Chi nhánh T- Phòng G (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: đường T, khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn L1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 08/7/2022, khởi kiện bổ sung ngày 20/4/2023 và khởi kiện bổ sung ngày 23/5/2024 cũng như quá trình tranh tụng; ông Nguyễn Tấn L1 – đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu: Bà Thạch Thị C Lạp có sử dụng quyền sử dụng đất thửa 1332, diện tích 4.660m², tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh đã được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/9/2006. Nguồn gốc là của cha mẹ bà Cô L cho bà Cô L vào năm 1998. Khoảng năm 2000 do cuộc sống khó khăn nên bà Cô Lạp phải đi làm thuê tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nên bà Cô L giao lại cho anh ruột là Thạch Rặc Sa M canh tác, trông coi, giữ đất cho bà Cô L. Những lần bà Cô Lạp về thăm mẹ ruột là bà Thạch Thị P thì bà có hỏi ông Sa M thì ông Sa M nói là do ông M sức khỏe yếu (thời điểm này ông Sa M bị nghiện rượu) nên cho ông Thạch Se N thuê đất để lấy lúa. Sau này, ông Sa M mới nói thật là ông Sa M gặp khó khăn nên có mượn của ông Se Na S1 vàng 45 chỉ vàng 24k nên cầm cố thửa đất 1332 cho ông Se N làm ruộng, khi nào ông Sa M có vàng thì sẽ chuộc lại để trả đất cho bà Cô L.
Việc ông Thạch Sa M tự ý lấy đất của bà Cô L để cầm cố cho ông Se N mà không có sự đồng ý của bà Cô L là xâm phạm đến quyền lợi của bà Cô L.
Ngoài ra, ông Thạch Se N có cung cấp Tờ sang nhượng đất ruộng và Tờ cam kết ghi cùng ngày 26/3/2001 có liên quan đến thửa đất 1332 đang tranh chấp. Ông Se N cho rằng thửa 1332 do ông Se N nhận chuyển nhượng từ ông Thạch Rặc Sa M và mẹ bà Cô L là Thạch Thị P. Tuy nhiên, thửa 1332 là của bà nên ông Sa M và bà P không có quyền sang nhượng cho bất cứ ai mà không có ý kiến của bà Cô L. Lúc bà P còn sống cũng khẳng định không có chuyển nhượng đất và không có nhận vàng từ ông Se Na . Ông Thạch Rặc Sa M không biết chữ, không biết đọc, không biết viết, ông Sa M nói chỉ cầm cố đất để mượn vàng chứ không có chuyển nhượng cho ông Thạch Se Na . Chữ ký của bà Thạch Thị P với ông Thạch Rặc Sa M tại Tờ sang nhượng đất ruộng ngày 26/3/2001; Tờ cam kết ngày 26/3/2001, chữ ký tại 02 tờ giấy này là khác nhau.
Nay yêu cầu ông Thạch Se N phải trả cho bà Cô L thửa đất số 1332, diện tích 4.660m² (thực đo 4.866m²), tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Yêu cầu hủy Tờ sang nhượng đất ruộng và Tờ cam kết ghi cùng ngày 26/3/2001 giữa ông Thạch Se N với ông Thạch Rặc Sa M, bà Thạch Thị P vì bà Thạch Thị P và ông Thạch Rặc Sa M không có chuyển nhượng đất cho ông Se Na .
- Theo ông Thái Sâm B- đại diện hợp pháp cho bị đơn ông Thạch Se N (yêu cầu phản tố ngày 05/7/2024) trình bày: Nguồn gốc đất thửa đất số 1332, diện tích 4.660m² là của bà Thạch Thị P1 (Phân), hàng ngày bên ông Thạch Se N thấy ông Thạch Rặc Sa M và bà Thạch Thị P1 canh tác, đến năm 2001 bà P1 và ông Sa M chuyển nhượng cho ông S2 Na phần đất này với giá 45 chỉ vàng 24 kara, hai bên giao nhận vàng tại nhà ông Thạch M1, có làm Tờ sang nhượng đất ruộng ngày 26/3/2001; Tờ cam kết ngày 26/3/2001, có người làm chứng và có xác nhận của chính quyền địa phương, thời điểm năm 2001 không thấy bà Cô Lạp canh tác phần đất này. Việc bà Thạch Thị P1 và ông Thạch Rặc Sa M có chuyển nhượng đất cho ông Thạch Se N là có thật. Khi chuyển nhượng đất cho ông, bà P hứa khi nào có giấy chứng nhận quyền sử dụng thực hiện hợp đồng chuyển nhượng sang tên trước bạ theo pháp luật quy định về đất đai. Tuy nhiên khi có giấy chứng nhận thì bà P lại đem đi thế chấp vay Ngân hàng và cứ hẹn lần hẹn lựa với ông khi nào có tiền trả Ngân hàng thì mới lấy giấy chứng nhận ra để làm thủ tục sang tên được. Do chỗ họ hàng nên ông không làm khó làm dễ bà P và ông Se Na C1 canh tác đất cho đến giữa năm 2022 thì con bà P là bà Thạch Thị C Lạp đến gặp ông xin chuộc nhưng ông không đồng ý vì đất này ông đã mua từ bà P và ông Thạch Sa M, nên bà Cô Lạp đòi tôi phải trả lại diện tích đất nói trên (từ thời điểm này ông mới biết thửa đất này bà Thạch Thị P đã sang tên cho con gái là Thạch Thị Cô L).
Ông Thạch Se N không đồng ý trả lại đất diện tích 4.660m² (thực đo 4.866m²) thửa 1332 cho bà Thạch Thị C Lạp. Ông Se N có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất số 1332, diện tích (thực đo 4.866m²), tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông Se Na .
- Ngày 26/10/2022 bà Thạch Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có bản khai trình bày như sau:
Bà là mẹ ruột của Thạch Thị Cô L. Trước đây vợ chồng bà có phần đất diện tích 4.660m², thửa đất số 1332, tờ bản đồ số 6, toạ lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Năm 1998 vợ chồng bà đã cho thửa đất này cho con là Thạch Thị C Lạp quản lý sử dụng, canh tác. Đến năm 2000 do cuộc sống khó khăn nên bà L đi thành phố Hồ Chí Minh kiếm việc làm. Lúc này bà có nghe bà L có giao cho ông Thạch Rặc Sa M quản lý, canh tác lấy lúa ăn và trong coi dùm cho bà L. Đến năm 2006 Thạch Thị C Lạp được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có ai tranh chấp khiếu nại gì.
Bà có nghe ông Sa M do sức khoẻ yếu (bị nghiện rượu) nên có cho ông Thạch Se N thuê đất để lấy lúa ăn. Khi bà L về sinh sống thì ông Thạch Se N không trả đất mà cho rằng đã mua phần đất này từ ông Sa M. Khi Ủy ban nhân dân xã S hoà giải thì bà nghe bà L kể là ông Se N nói thửa đất số 1332 do ông Se N mua của ông Sa M có giấy tờ, trên giấy có chữ ký của bà. Bà khẳng định từ trước tới nay bà hoàn toàn không có mua bán hoặc cầm cố đất gì với ông Se N và cũng không có nhận bất cứ vàng hoặc tiền gì từ ông Se N và cũng không ký giấy tờ mua bán hoặc cầm cố gì với ông Se Na . Vì đất này của bà L đã được cho từ năm 1998 cho đến nay đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy đất. Việc ông Sa M cầm cố đất cho ông Se N là trái pháp luật, không có ý kiến của bà Cô L.
Nay bà yêu cầu Toà án buộc vợ chồng ông Thạch Se N phải trả diện tích 4.660m², thửa đất số 1332, tờ bản đồ số 6, toạ lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho bà Cô L.
Ông Thạch Rặc Sa M có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có bản khai trình bày: Về nguồn gốc thửa số 1332, diện tích 4.660m², tờ đồ số 6, toạ lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh là của bà Thạch Thị C Lạp được cha mẹ cho từ năm 1998. Khoảng năm 2000 bà Cô L đi làm ăn xa nên giao cho ông Sa M trồng lúa để nuôi mẹ già ở nhà. Sau đó do vợ chồng ông đổ vỡ và vợ bỏ đi nên ông buồn chán, không có đi làm nên không có tiền tiêu xài. Vì vậy, ông nhiều lần mượn vàng của ông Thạch Se N với số vàng khoảng 45 chỉ vàng 24 ka ra để tiêu xài cá nhân, mua rượu uống. Đồng thời, ông có cầm cố thửa đất 1332 cho ông Se N, khi nào ông Sa M có tiền thì sẽ chuộc đất để trả lại đất cho bà Cô L, việc mượn tiền và cầm cố đất không có làm giấy tờ. Khi ông Sa M cầm đất để mượn vàng của ông Se N thì không có nói cho bà C L biết. Vì sợ khi ông nói ra thì bà Cô Lạp không cho ông cầm đất và ông không có tiền tiêu xài. Còn việc cầm đất, mượn vàng của ông Se N vào năm nào thì ông không còn nhớ do thời gian quá lâu.
Ngoài việc ông cầm cố đất, mượn vàng của ông Se N thì ông hoàn toàn không có việc mua bán, chuyển nhượng đất gì với ông Thạch Se Na . Do đất này của bà Thạch Thị C Lạp nên ông không có quyền gì đối với đất này. Bản thân ông là người không biết chữ nên ông không có ký tên vào tờ giấy nào cho ông Thạch Se Na.
Mẹ ông là bà Thạch Thị P (đã chết) cũng không biết ông cầm cố đất để mượn vàng của ông Thạch Se Na. Mẹ ông cũng không có tham gia hoặc nhận bất cứ tiền hoặc vàng gì từ ông Thạch Se Na .
Đối với số vàng mà ông đã mượn của ông Thạch Se N thì ông sẽ tự chịu trách nhiệm trả lại cho ông Se Na . Đồng thời ông xin chịu trách nhiệm toàn bộ hậu quả cho việc ông mượn vàng của ông Se Na .
Tại bản án sơ thẩm số 171/2024/DS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã quyết định:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 129, 500, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 188 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị Cô L.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Thạch Se N; công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 4.660m² (thực đo 4.866m²), thuộc thửa số 1332, tờ bản đồ số 6, toạ lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đất có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 132 có số đo là 59,12 mét;
- Hướng Tây giáp ranh giới huyện T có số đo 03 đoạn gồm: đoạn 01 là 18,56 mét; đoạn 02 là 23,19 mét; đoạn 03 là 10,52 mét;
- Hướng Nam giáp ranh giới huyện T có số đo là 56,24 mét; giáp thửa 606, có số đo là 11,26 mét và giáp thửa 714 có số đo là 19,64 mét.
- Hướng Bắc giáp thửa 661, cò số đo là 21,22 mét và giáp thửa 122 có số đo 03 đoạn gồm: đoạn 01 là 32,49 mét; đoạn 02 là 15,22 mét; đoạn 03 là 17,75 mét.
(Có sơ đồ khu đất số:1032/CNHCT, ngày 07/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh kèm theo).
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như nội dung quyết định của Tòa án khi có hiệu lực pháp luật.
Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án khi có hiệu lực pháp luật.
Các bên đương sự không được thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp để đảm bảo thi hành án khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/10/2024, ông Nguyễn Tấn L1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị Cô L kháng cáo yêu cầu chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận đơn phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về nội dung vụ án.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: kháng cáo của bà Thạch Thị Cô L là không có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 171/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày tranh luận của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[01] Về tố tụng : Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án theo khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 129, 500, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 188 Luật đất đai năm 2013.Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đúng quy định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và các đương sự có mặt cũng không yêu cầu có mặt họ, nên cấp phúc thẩm không hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đơn Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định, nên được cấp phúc thẩm chấp nhận.
[02] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Tấn L1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị Cô L thấy rằng:
Theo nội dung án sơ thẩm thì đất tranh chấp giữa bà Thạch Thị C Lạp vơi ông Thạch Se N tại thửa 1332, diện tích 4.660m² tọa lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc của mẹ ruột là bà Thạch Thị P cho bà Cô Lạp năm 1998, việc cho tặng không có giấy tờ, bà Cô L chưa kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về sử dụng đất: bà Cô L lên thành phố làm ăn, không sử dụng đất mà phần đất này do người anh ruột là Thạch Rặc Sa M canh tác nuôi mẹ là bà Thạch Thị P.
Ông Thạch Rặc Sa M cho rằng có mượn vàng nhiều lần của ông Se N là 45 chỉ vàng 24k, nên năm 2001 đã cầm phần đất trên cho ông Se N; còn ông Se N thì cho rằng bà P và ông M chuyển nhượng cho ông, hai bên có làm giấy tay “tờ sang nhượng đất ruộng ngày 26/3/2001 và tờ cam kết” lâp cùng ngày có nhiều người làm chứng, có trưởng ban nhân ấp xác nhận. Tuy kết quả giám định là không phải chữ ký của bà P vì chữ ký của bà P không cố định, nên không coi chữ ký giám định để làm căn cứ giải quyết vụ án, nhưng án sơ thẩm nhận định việc bà P và ông M chuyển nhượng thửa 1332 nêu trên cho ông Se N là có thật là có căn cứ bởi lẽ:
Một là: Ông Thạch Rặc Sa M thừa nhận có cầm, nhưng giấy ghi là chuyển nhượng.
Hai là: Thời điểm 2001, phần đất tranh chấp có giá khoảng 8 đến 10 chỉ một công, diện tích tranh chấp 4.660m², ông Se N và ông Sa M thừa nhận là 45 chỉ là giá chuyển nhượng, không phải là giá cầm cố.
Ba là: Ông Se N có làm tờ sang nhượng đất ruộng và tờ cam kết có nhân chứng xác nhận đều đó thể hiện ông Se N chuyển nhượng đất là công khai, không dấu giếm gì như ông Sa M nói mượn vàng cầm đất, mặc khác việc chuyển nhượng còn phù hợp với lời khai của ông Thạch M1: Trước khi chuyển nhượng cho ông Se N thì bà P có cầm phần đất này cho ông M1 thời hạn 03 năm, bà P có kêu bán nhưng ông không mua. Việc giao nhận vàng tại nhà ông, khi giao nhận vàng ông đi ruộng không có ở nhà, vợ ông có nói lại cho ông nghe (hiện vợ ông M1 đã chết). Lời trình bày của ông Thạch M1 là khách quan, đáng tin cậy, vì ông có mối quan hệ bà con với nguyên và bị đơn và cũng không có mâu thuẫn gì với hai bên đương sự.
Bốn là: Tại thời điểm lập giấy tờ chuyển nhượng là năm 2001, bà P mới kê khai chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà P và ông Sa M canh tác phần đất thửa 1332, đến năm 2003 thì bà P được cấp giấy chứng nhận, nên trên thực tế bà Cô Lạp không được cấp giấy và cũng không trực tiếp sử dụng, nên bà Cô L không có quyền gì đối với phần đất trên. Năm 2006, thì bà P làm hợp đồng tặng cho bà C Lạp phần đất này. Mặc khác tại thời điểm từ năm 2001 và đến khi được tặng cho thửa 1332, bà Cô L biết phần đất ông Se N canh tác nhưng cũng không gặp Se N để làm rõ phần đất đã chuyển nhượng hay cầm cố. Đến năm 2022 thì bà mới khởi kiện đòi lại đất, trong khi ông S3 canh tác liên tục từ 2001 đến nay.
Từ nhận định trên thấy rằng: Án sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Cô L là có căn cứ, nên kháng cáo của bà Cô L là không được cấp phúc thẩm chấp nhận.
[3] Ý kiến của kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xử bác yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị Cô L là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[04] Về án phí phúc thẩm: Bà Thạch Thị Cô L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị Cô L.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 171/2024/DS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
Không chấp nhấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị Cô L.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Thạch Se N; công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.660m² (thực đo 4.866m²), thuộc thửa số 1332, tờ bản đồ số 6, toạ lạc tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đất có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 132 có số đo là 59,12 mét;
- Hướng Tây giáp ranh giới huyện T có số đo 03 đoạn gồm: đoạn 01 là 18,56 mét; đoạn 02 là 23,19 mét; đoạn 03 là 10,52 mét;
- Hướng Nam giáp ranh giới huyện T có số đo là 56,24 mét; giáp thửa 606, có số đo là 11,26 mét và giáp thửa 714 có số đo là 19,64 mét.
- Hướng Bắc giáp thửa 661, có số đo là 21,22 mét và giáp thửa 122 có số đo 03 đoạn gồm: đoạn 01 là 32,49 mét; đoạn 02 là 15,22 mét; đoạn 03 là 17,75 mét.
(Có sơ đồ khu đất số:1032/CNHCT, ngày 07/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh kèm theo).
Về án phí phúc thẩm: Bà Thạch Thị Cô L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Long |
Bản án số 30/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 30/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
