|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 30/2025/DS-PT Ngày: 04/4/2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương;
Bà Lê Thị Dung.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Xuân Tú – Thư ký Toà án.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 114/2024/DS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2025/QĐPT-DS, ngày 10 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Trọng Q, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà các đương sự đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Do có quan hệ quen biết, nên anh Q có cho bà H vay tiền nhiều lần. Đến ngày 03/02/2022 hai bên chốt lại số nợ với nhau, theo đó bà H còn nợ anh Quân số tiền 2.300.000.000 đ. Khi chốt nợ, bà H có viết giấy vay tiền, lãi suất hai bên thỏa thuận miệng là 1,5%/tháng.
Quá trình trả nợ, bà H vài tháng mới trả lãi một lần và trả không đầy đủ. Tính đến tháng 02 năm 2024, bà H còn nợ anh số tiền lãi là 187.000.000 đ. Từ đó đến nay, bà H không trả lãi cũng như gốc cho anh, anh đã đòi nhiều lần nhưng bà H cứ khất lần không trả.
Nay anh yêu cầu bà H phải trả cho anh số tiền gốc là 2.300.000.000 đ, tiền lãi còn nợ lại là 187.000.000 đ, tiền lãi tính từ tháng 02 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024 (tính tròn bằng 10 tháng) theo lãi suất đã thỏa thuận 1,5%/tháng = 345.000.000 đ và lãi phát sinh (theo thỏa thuận 1,5%/tháng) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Tổng cả gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 2.832.000.000 đ.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà công nhận hiện tại còn nợ anh Quân số tiền gốc 2.300.000.000 đ như anh Q đã trình bày là đúng thực tế, lãi suất hai bên thỏa thuận miệng là 1,5%/tháng. Cụ thể các lần trả lãi như thế nào thì bà không nhớ. Hiện tại điều kiện kinh tế của bà đang gặp khó khăn, do suy thoái kinh tế toàn cầu, ngoài anh Q bà còn nợ nhiều người khác nên bà xin anh Quân S tiền lãi và gốc bà xin được trả dần.
Ngày 06/11/2024 anh Lê Trọng Q có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và đã được Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân chấp nhận bằng quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2024/QĐ – BPKCTT ngày 06/11/2024 “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 45, diện tích 128 m², địa chỉ thửa đất tại Khu A (khu B cũ), thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 114/2024/DS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho anh Lê Trọng Quân S tiền:
2.832.000.000 đ (hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu đồng), trong đó tiền gốc 2.300.000.000 đ (hai tỷ ba trăm triệu đồng), tiền lãi còn nợ cũ 187.000.000 đ (một trăm tám mươi bảy triệu đồng), tiền lãi từ tháng 02 năm 2024 đến ngày xét xử là 345.000.000 đ (ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận là 1,5%/tháng.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 08/2024/QĐ – BPKCTT ngày 06/11/2024 về áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm và miễn tiền lãi cho bị đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 114/2024/DS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án Toà án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người kháng cáo đã thực hiện đầy đủ thủ tục kháng cáo và kháng cáo đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và bị đơn không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
Bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm và miễn tiền lãi cho bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Nguyên đơn và bị đơn đều khai: Do có quan hệ quen biết, nên nguyên đơn có cho bị đơn vay tiền nhiều lần. Đến ngày 03/02/2022 hai bên chốt lại số nợ với nhau, theo đó bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc: 2.300.000.000₫ và 257.000.000đ tiền lãi. Khi chốt nợ, bị đơn có viết giấy vay tiền, lãi suất thỏa thuận miệng với nhau là 1,5%/tháng. Đến ngày 08/02/2024, bà H đã trả cho anh Q 70.000.000đ tiền lãi, tiền lãi còn nợ lại 187.000.000 đồng.
Quá trình trả nợ, bị đơn vài tháng mới trả lãi một lần và trả không đầy đủ. Từ đó đến nay, bị đơn không trả lãi cũng như gốc cho nguyên đơn, nguyên đơn đã đòi nhiều lần nhưng bị đơn khất lần không trả.
Đây là các là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Tại thời điểm ký kết Giấy vay tiền, các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã đọc, hiểu và đồng ý tất cả các điều khoản trong hợp đồng và cùng ký tên vào Giấy vay tiền. Như vậy, Giấy vay tiền ngày 03/02/2022 đảm bảo đầy đủ nội dung, hình thức theo quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Bà H vay tiền của anh Q rồi cho người khác vay lại, chồng bà H không biết đến khoản vay này của bà; bà H cũng xác định đây là khoản nợ riêng của bà H, không liên quan đến chồng bà. Do bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải có trách nhiệm trả nợ theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
Hai bên có thoả thuận miệng với nhau lãi suất 1,5%/tháng tương đương 18%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Bà H trình bày không nhớ cụ thể các lần trả lãi. Theo tài liệu, chứng cứ anh Q cung cấp cho Tòa án thể hiện, tính đến ngày 03/02/2024 bà H còn nợ tiền lãi của anh Q là 257.000.000đ. Đến ngày 08/02/2024 bà H trả 70.000.000đ tiền lãi và còn nợ lại tiền lãi là 187.000.000đ. Tiền lãi phát sinh từ ngày 03/02/2024 đến ngày xét xử là 10 tháng 23 ngày, nhưng anh Q tính tròn bằng 10 tháng là 345.000.000đ, đây là sự tự nguyện của anh Q và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử sơ thẩm đã ghi nhận nội dung này. Tại phiên toà phúc thẩm, anh Q không đồng ý miễn toàn bộ lãi cho bà H. Tiền lãi chậm trả lãi anh Q không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: xét thấy không có căn cứ để huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nên cần tiếp tục duy trì Quyết định số 08/2024/QĐ – BPKCTT ngày 06/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá về áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H, mà cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 114/2024/DS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Trọng Q.
Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho anh Lê Trọng Quân S tiền:
2.832.000.000 đ (hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu đồng), trong đó tiền gốc 2.300.000.000 đ (hai tỷ ba trăm triệu đồng), tiền lãi tính đến ngày 03/02/2024 là: 187.000.000 đ (một trăm tám mươi bảy triệu đồng), tiền lãi từ tháng 02 năm 2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 345.000.000 đ (ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi chậm trả của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận là 1,5%/tháng.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 08/2024/QĐ – BPKCTT ngày 06/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 88.640.000 đ (tám mươi tám triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
Trả lại cho anh Lê Trọng Q 43.630.000 đ (bốn mươi ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002831 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005344 ngày 07/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Thu Phương |
Bản án số 30/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 30/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Trọng QUân khởi kiện Nguyễn Thị Huệ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
