|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-PT Ngày 28/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và bà Nguyễn Thị Hương.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28/5/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc N và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Đỗ Thị Ngọc N,
sinh năm: 1991; giới tính: Nữ; trú tại: Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Đỗ Văn P và bà Nguyễn Thị T; có chồng là: Mai Văn K (là bị cáo trong cùng vụ án); có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. -
Phan Thị O,
sinh năm: 1980; giới tính: Nữ; nơi sinh: K, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Phan Trung T1 và bà Đặng Thị X; có chồng là Lê Trung H (đã ly hôn), chồng Phí Đức H1 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. -
Phạm Thị A,
sinh năm: 1991; giới tính: Nữ; trú tại: thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Phạm Văn N1 và bà Nguyễn Thị M; có chồng là: Đào Hữu Q (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. -
Nguyễn Thị Kim A1,
sinh năm: 1996; giới tính: Nữ; đăng ký hộ khẩu: thôn T, thị trấn Y, huyện Y, Hưng Yên; chỗ ở: Tổ dân phố A, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; con ông Nguyễn Minh C và bà Nguyễn Thị H2 (tại phiên tòa, bị cáo khai Vũ Thị H3); có chồng là Lưu Xuân T2; có 03 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra còn 19 bị cáo khác và người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/12/2022, Công an huyện Y phát hiện Mai Văn K đang đứng ở phía trước cổng Công ty TNHH S và nguyên phụ liệu HARCO để giao cho người mua Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H, vật chứng thu giữ gồm: 10 tờ Giấy khám sức khỏe đề tên Bệnh viện Đa khoa tỉnh H; 01 vỏ phong bì bằng giấy trắng, có các chữ viết tay bằng mực xanh có nội dung “0339.193.629 Phạm Hùng V Cty Ha cosu- tử D-L-Y 096666.1685 Thu 700k"; 01 xe máy nhãn hiệu HONDA AirBlade, màu đen, BKS: 29K1-332.12; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng lắp 01 sim Vinaphone thuê bao số 0911.536.xxx; 01 điện thoại Iphone XS Max, màu vàng, lắp 02 sim V1 thuê bao số 0984145113 và số 0987726100; 01 ví giả da màu nâu và số tiền 2.300.000 đồng.
Cùng ngày, Đỗ Thị Ngọc N vợ của K đến Công an huyện Y xin đầu thú, tự giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A50, màu xanh, lắp 02 sim thuê bao số 0979.436.445 và 033.919.3xxx đồng thời khai nhận hành vi cùng K thực hiện việc mua bán các Giấy khám sức khỏe giả. Quá trình điều tra mở rộng đã làm rõ và xác định:
1. Hành vi của Đỗ Thị Ngọc N:
Từ năm 2020 đến ngày 23/12/2022, bị can Đỗ Thị Ngọc N qua việc sử dụng mạng xã hội Facebook thấy trên các trang hội nhóm lập tên tỉnh Hưng Yên có nhiều tài khoản đăng bài cần tìm mua Giấy khám sức khỏe của Bệnh viện hoàn thiện hồ sơ xin việc, đi làm, đi học, thi bằng lái xe, nên đã nảy sinh ý định thực hiện việc mua, bán lại các Giấy khám sức khỏe để kiếm lời. Để thực hiện, Đỗ Thị Ngọc N đã tạo lập, sử dụng tài khoản facebook tên “Yến Nhi”, đăng ký bằng số điện thoại 0339.193.xxx (tài khoản Facebook này được thay đổi duy trì đăng nhập trên điện thoại cá nhân của N với tài khoản Facebook của N sử dụng để liên lạc với người thân, gia đình, bạn bè, tên “Đỗ Thị Ngọc N” đăng ký bằng số điện thoại 0979.436.xxx - số điện thoại đăng ký thông tin chính chủ tên của N) tìm kiếm trên các trang, nhóm có nội dung “Giấy khám sức khỏe” để tìm kiếm thông tin tài khoản, người bán Giấy khám sức khỏe giao bán giấy với giá thấp, thường là các tài khoản có bài đăng nhận làm, cung cấp các giấy khám sức khỏe của các bệnh viện và tìm kiếm người mua sỉ. N sử dụng thêm số điện thoại 0339.193.xxx tạo lập tài khoản Zalo tên “Ben” để sử dụng cho việc liên lạc với số điện thoại / zalo được đăng trên các bài viết bán giấy để tìm hiểu thêm thông tin, hình ảnh, thỏa thuận việc mua bán, thanh toán, giao nhận Giấy khám sức khỏe. Khi thỏa thuận được giá, N cung cấp địa chỉ của bản thân cùng số điện thoại 0339.193.xxx/Zalo tên “Ben” để thuận tiện cho việc liên lạc nhận Giấy khám sức khỏe đã đặt mua. Việc thanh toán tiền mua Giấy khám sức khỏe trong trường hợp chuyển khoản nhận giấy thì khi người bán cung cấp số tài khoản nhận thanh toán N thực hiện việc chuyển khoản thanh toán từ tài khoản của N số 1013605603 mở tại Ngân hàng TMCP N2 (V2) Chi nhánh T4 ngày 07/4/2020 hoặc cung cấp số tài khoản nhận để K thực hiện việc chuyển khoản thanh toán từ tài khoản số 19027109022019 của K mở tại Ngân hàng TMCP K2 (T5) Chi nhánh huyện Y hoặc nhờ chuyển khoản từ dịch vụ chuyển tiền 24/7 tại các cửa hàng sửa chữa, buôn bán điện thoại trên địa bàn huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Đối với trường hợp giao nhận giấy, thanh toán qua trung gian (đơn vị chuyển phát hàng hóa, nhà xe) khi nhân viên giao hàng liên hệ thì N trực tiếp nhận thanh toán tiền hoặc bảo K thực hiện. Mai Văn K thực hiện việc giao giấy cho khách mua.
Sau khi mua được giấy khám sức khỏe, để tìm kiếm khách mua, N thực hiện việc đăng bài viết bán/cung cấp giấy khám sức khỏe để đi làm công nhân trên tài khoản facebook tên “Yến Nhi”, bài đăng có hình ảnh Giấy khám sức khỏe (một số hình ảnh là do N chụp lại mẫu giấy đã mua, một số hình ảnh là do N copy lại từ các tài khoản khác), kèm theo số điện thoại/Zalo số 0339.193.xxx để người mua liên hệ (một số thời điểm bài đăng bán/cung cấp giấy khám sức khỏe được đăng trên Facebook tên “Đỗ Thị Ngọc N” do tài khoản Facebook tên “Yến Nhi” thay đổi duy trì đăng nhập trên điện thoại với tài khoản Facebook tên“Đỗ Thị Ngọc N”), số điện thoại 0979.436.xxx/0339.193.629, tài khoản Facebook tên “Đỗ Thị Ngọc N”/ “Yến Nhi”, tài khoản Z tên “Ben” được lắp, duy trì đăng nhập trên điện thoại Samsung A50, màu xanh của N.
Khi có khách mua liên hệ Ngà trao đổi, thỏa thuận, thống nhất với khách mua về thông tin của Giấy khám sức khỏe, giá bán, phí giao hàng, địa điểm, thời gian giao nhận giấy thanh toán tiền, số điện thoại của khách để liên lạc, rồi chuyển tiếp thông tin của khách lại cho K (qua số điện thoại 0911.536.xxx được lắp trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng của K và qua tài khoản Zalo tên “Bố Bi” đăng ký bằng số điện thoại 0984.145.xxx được lắp và duy trì đăng nhập trên điện thoại Iphone XS Max, màu vàng, cùng sim thuê bao số 0987.726.100 của K) để K thực hiện việc liên hệ giao giấy, nhận tiền với khách mua. Nhận thông tin khách mua cùng số lượng giấy mỗi khách mua, K thực hiện việc kiểm đếm số lượng, đóng gói các giấy khám sức khỏe theo từng khách mua, đối với khách mua số lượng ít (thông thường dưới 20 tờ) K lấy số lượng giấy khách đặt mua đóng vào phong bì bằng giấy trắng dán kín, vị trí người gửi trên vỏ phong bì ghi số điện thoại 0339.193.xxx, vị trí người nhận ghi thông tin tên, địa chỉ, số điện thoại của khách và số tiền thu của khách vào phong bì, đối với khách lấy số lượng nhiều (trên 20 tờ), K lấy số lượng giấy khách đặt mua đóng vào phong bì bằng giấy trắng dán kín, bọc ngoài thêm túi nilon dán kín bằng băng dính trắng, viết thông tin người gửi ghi số điện thoại 0339.193.xxx, người nhận ghi thông tin tên, địa chỉ, số điện thoại của khách và số tiền thu vào mảnh giấy trắng, dán lên mặt ngoài túi nilon, rồi thực hiện việc đi giao bán giấy cho khách mua. K sử dụng số điện thoại 0911.536.xxx để liên hệ với số điện thoại khách cung cấp, đưa ra thông tin là nhân viên giao hàng thuê cho khách để hẹn gặp giao bán giấy cho khách và nhận tiền khách thanh toán.
Thi hành lệnh khám xét khẩn cấp địa điểm tại cửa hàng sửa chữa điện thoại của Mai Văn K tại thôn T, xã L, phát hiện thu giữ: 01 vỏ thùng bìa catton kích thước (32x25)cm; 01 vỏ phong bì bằng giấy trắng kích thước (21x30)cm; 01 bút bi mực xanh; 01 mảnh giấy trắng hình chữ nhật, một mặt dán băng dính trắng có ghi chữ viết tay mực xanh trên mặt giấy, nội dung “0911536598 Quỳnh, vòng xuyến Y - Hưng Yên, thu hộ 6.600.000”, (tiến hành đánh số ký hiệu từ A14.580), 150 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H (tiến hành đánh số ký hiệu từ A11 đến A 160);
Thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mai Văn K, không phát hiện thu giữ, đồ vật, tài liệu gì.
Quá trình điều tra xác định N mua tổng cộng 3.529 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H và 409 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B với tổng số tiền là 75.770.000 đồng, đã bán tổng số 2.827 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B và Bệnh viện Đa khoa tỉnh H, thu được tổng số tiền 159.470.000 đồng, thu lợi số tiền 98.734.500 đồng, Đỗ Thị Ngọc N và Mai Văn K đã tự nguyện nộp tổng số tiền 100.000.000 đồng thu lời bất chính.
2. Hành vi của Phạm Thị A:
Trong khoảng thời gian từ ngày 22/9/2021 đến ngày 21/4/2022, Phạm Thị A sử dụng số điện thoại 0334.571.xxx/zalo tên “Phạm Bảo A2” của bản thân liên lạc đến số điện thoại 0339.193.xxx/Zalo tên “Ben” của N mua tổng số 04 lần, tổng cộng 400 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B với giá là 28.000đ/01 tờ, tổng số tiền là 11.200.000 đ. Sau khi mua Phạm Thị A giữ nguyên đặc điểm giấy, khai nhận bán lại cho người khác với giá là 100.000đ/01 tờ, để người mua hoàn thiện giấy, sử dụng giấy khám sức khỏe giả để hợp thức hóa hồ sơ xin việc làm, còn lại 18 tờ chưa bán được đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra.
Đối với các thông tin các đối tượng có liên lạc mua lại giấy của A, quá trình điều tra vụ án, do chưa làm rõ được thông tin, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau.
3. Hành vi của Phan Thị O:
Trong khoảng thời gian từ ngày 30/8/2021 đến ngày 13/10/2022, Phan Thị O sử dụng số điện thoại 0983.717.xxx/Zalo tên “Phan Oanh” của bản thân liên lạc đến số điện thoại 0339.193.xxx/Zalo tên “Ben” của N mua 18 lần, tổng cộng 770 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H với tổng số tiền là 38.000.000 đồng.
Sau khi mua O bán lại giá 100.000đ/01 tờ, để người mua tự hoàn thiện giấy, sử dụng giấy khám sức khỏe giả để hợp thức hóa hồ sơ xin việc làm, còn lại 09 tờ chưa bán đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra. Quá trình điều tra, đã làm rõ O bán 05 lần cho Nguyễn Thị H4 tổng cộng 144 tờ, thu được tổng số tiền là 14.400.000đ, thu lợi số tiền 7.200.000 đồng.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Phan Thị O không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Quá trình điều tra O tự nguyện nộp số tiền 2.000.000 đồng thu lời bất chính.
4. Hành vi của Nguyễn Thị Kim A1:
Trong các khoảng thời gian khác nhau vào năm 2021 và năm 2023, Nguyễn Thị Kim A1 sử dụng tài khoản Face book tên “Nguyễn Kim Al” của mình liên lạc với tài khoản facebook tên “Tuyen Pham” của bị cáo T2, Kim A1 bán cho T2 331 tờ giấy khám sức khỏe giả của bệnh viện B với số tiền là 19.070.000 đồng, thu lợi 3.480.000 đồng.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị Kim A1 không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Quá trình điều tra bị cáo tự nguyện nộp 5.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Đối với thông tin các đối tượng mua, bán giấy khám sức khỏe giả với A, quá trình điều tra do chưa làm rõ được nên cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Áp dụng điểm a,c khoản 3, 4 Điều 341; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc N. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phan Thị O, Phạm Thị A và Nguyễn Thị Kim A1.
Tuyên bố:
Bị cáo Đỗ Thị Ngọc N phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”; các bị cáo Phạm Thị A, Phan Thị O và Nguyễn Thị Kim A1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Đỗ Thị Ngọc N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung đối với bị cáo 10.000.000 đồng.
- - Bị cáo Phan Thị O 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- - Bị cáo Phạm Thị A và bị cáo Nguyễn Thị Kim A1 mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt các bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/02/2024 và ngày 16/02/2024, các bị cáo Đỗ Thị Ngọc N, Phan Thị O, Nguyễn Thị Kim A1, Phạm Thị A kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải và đều xin giảm nhẹ hoặc được cải tạo tại địa phương để có điều kiện nuôi dưỡng con nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc N, giảm hình phạt với bị cáo từ 02 tháng đến 03 tháng tù; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị A, Phan Thị O và Nguyễn Thị Kim A1, giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thị Ngọc N, Phạm Thị A, Phan Thị O, Nguyễn Thị Kim A1 đảm bảo về hình thức và trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đỗ Thị Ngọc N, Phạm Thị A, Phan Thị O vàNguyễn Thị Kim A1khainhậntoàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị cáo khác cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Đỗ Thị Ngọc N cùng chồng là Mai Văn K: Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến ngày 23/12/2022, đã mua tổng cộng 3.529 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H và 409 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B với tổng số tiền là 75.770.000 đồng, đã bán được 2.827 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B và Bệnh viện Đa khoa tỉnh H, thu lợi số tiền 98.734.500 đồng.
Bị cáo Phan Thị O: Trong khoảng thời gian từ ngày 30/8/2021 đến ngày 13/10/2022, đã 18 lần mua của N, tổng cộng 765 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H, với tổng số tiền là 38.000.000 đồng, sau khi mua đã bán lại với giá 100.000 đồng/ 1 tờ, xác định bị cáo đã thu lợi 38.100.000 đồng.
Bị cáo Phạm Thị A: Từ ngày 22/9/2021 đến ngày 21/4/2022, đã mua của N 400 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B, với số tiền 11.100.000 đồng, đã bán 382 tờ với giá 100.000đồng/ 01 tờ, thu lợi 27.100.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Thị Kim A1: Từ ngày 23/02/2021 đến ngày 02/8/2021, và từ ngày 02/02/2023 đến ngày 08/02/2023 đã bán cho Phạm Thị Kim T3 331 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B, thu lợi 3.480.000đồng.
Bị cáo Đỗ Thị Ngọc N trực tiếp mua của các đối tượng là “Cộng tác viên” của bị cáo Trần Thị H5, mua số lượng lớn, sau đó bán lại cho các đối tượng khác, để các đối tượng bán lại cho người sử dụng, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, bị cáo đã bán 2.827 tờ Giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B và Bệnh viện Đa khoa tỉnh H, thu lợi 98.734.500 đồng, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a, c khoản 3 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Phạm Thị A, Phan Thị O, Nguyễn Thị Kim Al mua của vợ chồng Ngà K1 rồi về bán lại cho các công nhân hoàn thiện hồ sơ xin việc, nên phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, mua bán nhiều lần nên phải chịu trách nhiệm theo điểm b khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thị Ngọc N, Phạm Thị A, Phan Thị O, Nguyễn Thị Kim A1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Đỗ Thị Ngọc N phạm tội giữ vai chính, là người mua số lượng lớn giấy tờ giả để bán lại cho các bị cáo khác; các bị cáo Phạm Thị A, Phan Thị O và Nguyễn Thị Kim A1 cũng tham gia mua nhiều lần của bị cáo N để bán lại cho người sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo là tương xứng, phù hợp quy định của pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm.
- - Bị cáo Đỗ Thị Ngọc N giao nộp: Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi 02 con nhỏ (sinh năm 2015 và 2020), xin được cải tạo tại địa phương, có xác nhận của UBND xã L, huyện Y;
- - Bị cáo Phan Thị O giao nộp: Trích lục bản án ly hôn với chồng là Phí Đức H1, hiện tại bị cáo đang nuôi con nhỏ (sinh năm 2016);
- - Bị cáo Nguyễn Thị Kim A1 giao nộp: Giấy khai sinh và trích lục khai sinh của ba con nhỏ (sinh năm 2014, 2017 và 2022);
- - Bị cáo Phạm Thị A giao nộp: Đơn xin xác nhận là mẹ đơn thân đang nuôi hai con nhỏ (sinh năm 2010 và 2012), có xác nhận của UBND xã T, huyện V.
Xét các bị cáo đều có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, tuy nhiên bị cáo Đỗ Thị Ngọc N phạm tội nghiêm trọng, có hai tình tiết định khung tăng nặng, mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, mà chỉ xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Đối với các bị cáo Phạm Thị A, Phan Thị Ovà Nguyễn Thị Kim A1 đều phạm tội 02 lần trở lên, tuy nhiên các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo Phan Thị OvàPhạm Thị Ađều là mẹ đơn thân, nuôi con nhỏ, bị cáo Nguyễn Thị Kim Al nuôi con dưới 36 tháng tuổi, các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng nên cần chấp nhận kháng cáo, cho các bị cáo hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và đảm bảo quyền lợi của trẻ em.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với đánh giá của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Đỗ Thị Ngọc N, Phạm Thị A, Phan Thị O vàNguyễn Thị Kim A1không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; các điểm c, e khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thị Ngọc N, Phạm Thị A, Phan Thị O, Nguyễn Thị Kim Al, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên về phần hình phạt đối với các bị cáo.
- - Áp dụng điểm a, c khoản 3, 4 Điều 341; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Ngọc N 03 (ba) năm tù về tội Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc N số tiền 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thị O 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị A và Nguyễn Thị Kim A1, mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức.
Giao bị cáo Phan Thị O và Nguyễn Thị Kim A1 cho UBND phường N, thị xã M; giao bị cáo Phạm Thị A cho UBND xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ thi hành án 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 30/2024/HS-PT ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 30/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bi cáo làm giả giấy tờ tài liệu
