|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 11 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Chương và ông Hoàng Chí Tình
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Nam H, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1971, tại tỉnh Hà Tĩnh
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bạch Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Thanh N và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 24/01/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: bà Trần Thị H1, sinh năm 1969. Đã chết.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: chị Trần Thị H2, sinh năm 1996
Nơi cư trú: tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Trần Văn L1, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Công ty TNHH K1
Địa chỉ: Số G N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh
Người đại diện theo uỷ quyền: anh Nguyễn Viết Đ1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 31/10/2023, Nguyễn Nam H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 38H - 007.30 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 38R - 016.94 của Công ty TNHH K2 trên Quốc lộ A theo hướng Nam – B, khi đến Km 623+400, thuộc địa phận tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, Quảng Bình thì phát hiện xe bị hỏng bộ phận đề, nên H điều khiển xe ô tô trên vào đậu tại khu đất trống bên phải đường Q, bên cạnh gara ô tô T - L2 để sửa chữa. Sau khi khắc phục xong sự cố, đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, H đi ra phía sau đuôi xe ô tô quan sát ở làn đường bên phải thấy không có phương tiện nào lưu thông, nên lên xe điều khiển xe lùi ra đường Q để tiếp tục hành trình. Quá trình lùi xe, H không bật đèn tín hiệu xi nhan đôi ở hai bên đuôi xe để cảnh báo cho các xe đang lưu thông trên Quốc lộ A biết nguy hiểm. Khi xe ô tô BKS 38H - 007.30 kéo theo sơ mi rơ moóc của Nguyễn Nam H điều khiển lùi ra gần hết làn đường thứ hai của phần đường bên phải Quốc lộ A thì cùng lúc đó, ông Trần Văn L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 73N1 - 0612, chở vợ là bà Trần Thị H1, lưu thông trên Quốc lộ A, theo hướng N - Bắc đang chạy tới. Khi ông L1 chạy đến Km 623+400 Quốc lộ A thì mới phát hiện xe ô tô đầu kéo do Nguyễn Nam H điều khiển đang lùi, cách đầu xe của anh L1 khoảng 03 đến 04m. Do quá bất ngờ nên ông L1 phanh xe thì xe bị ngã nghiêng sang trái, cả ông L1, bà H1 cùng xe mô tô trượt trên mặt đường, bà H1 bị bánh sau cùng bên phải của sơ mi rơ mooc BKS 38R - 016.94 đang lùi đè lên người. Lúc này Nguyễn Nam H nghe có tiếng la hét “có xe phía sau” thì dừng xe lại xuống xe kiểm tra và phát hiện đã xảy ra tai nạn nên H lên xe ô tô điều khiển xe vào đậu lại ở khu đất trống và trình báo sự việc đến Cơ quan điều tra theo quy định. Hậu quả: Bà H1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Q, còn ông L1 bị xây xát nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là phần đường bên phải Quốc lộ A, tại Km623+400, thuộc địa phận tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, Quảng Bình (Mặt đường Quốc lộ 1A được rải nhựa, thẳng, phẳng, rộng tổng thể 19,70m, có dải phân cách cứng nằm ở giữa rộng 01,7m, chia phần đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, mỗi phần đường rộng 07m, hai bên có lề đường rộng 02m, mỗi bên có 03 vạch sơn kẻ đường màu trăng, vạch sơn ở chính giữa đứt quãng, phía bên phải (phía Đông) đường Q, hướng Nam- B, nơi xảy ra tai nạn giao thông có biển báo bắt đầu khu đông dân cư và biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, mặt đường dính nước).
+ Xác định điểm mốc: Lấy tâm vào cổng nhà ở của anh Trần Văn K, sinh năm 1967 trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, nằm ở bên phải Quốc lộ A theo hướng Nam-Bắc làm chuẩn.
+ Xác định mép đường chuẩn: Lấy mép đường bên phải Quốc lộ A, hướng N-B, thuộc địa phận TDP T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình làm chuẩn.
Hiện trường khám nghiệm theo hướng N1- Bắc thể hiện như sau:
+ Cách tâm vào cổng nhà ở của anh Trần Văn K về phía Bắc 26,9m là vị trí điểm đầu dấu vết đất có hằn vân lốp xe ô tô trên mặt đường nhựa và khu đất trống, kích thước (08 x 0,6)m; điểm đầu dấu vết đất có hằn vân lốp xe ô tô cách vào mép đường chuẩn 2,20m, điểm cuối nằm dưới hai bánh xe phía sau cùng của Sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94, cách vào mép đường chuẩn 3,6m (đánh dấu số 01)
+ Cách vị trí điểm đầu dấu vết đất có hằn vân lốp xe ô tô đánh dấu vị trí số 01 về phía Bắc 01,6m là điểm đầu dấu vết đất đứt quãng,có hằn vân lốp xe ô tô trên mặt đường nhựa và mặt khu đất trống, kích thước (0,8 x 0,6)m; điểm đầu dấu vết đất đứt quãng có hằn vân lốp xe ô tô cách mép đường chuẩn 3,7m, điểm cuối nằm dưới hai bánh lốp xe bên trái sau cùng của Sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94, cách vào mép đường chuẩn 1,40m (đánh dấu số 02).
+ Nằm ngay điểm cuối dấu vết đất có hằn vân lốp xe ô tô, được đánh dấu số 01 là vị trí hai bánh lốp xe bên phải sau cùng của Sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94. Xe ô tô đầu kéo BKS 38H-007.30, kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94 dừng đỗ trên khu đất trống bên phải, phía Đông QL 1A, hướng N - B, đầu xe ô tô BKS 38H- 007.30 quay hướng Đông, đuôi sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94 quay hướng T, tâm trục bánh trước bên trái của xe ô tô đầu kéo 38H-007.30 cách mép đường chuẩn 9,3m, tâm trục bánh sau cùng bên trái sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94 cách vào mép đường chuẩn 1,4m (đánh dấu số 03).
+ Cách vị trí điểm cuối dấu vết đất có hằn vân lốp xe ô tô, đánh số 02 về phía Bắc 1,1m là vị trí điểm đầu dấu vết đất có hằn vân lốp xe ô tô nằm trên mặt khu đất trống, kích thước (8,2 x 0,6)m, điểm đầu dấu vết đất có hằn vân lốp xe ô tô nằm trên mặt khu đất trống cách vào mép đường chuẩn 0,63m, điểm cuối nằm ngay dưới hai bánh lốp thứ hai (tính từ trước ra sau) sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94, cách vào mép đường chuẩn 7,15m (đánh dấu số 4).
+ Cách tâm trục bánh trước bên trái của xe ô tô đầu kéo 38H-007.30 về phía Bắc 13,7m là vị trí trục bánh sau bên phải của xe mô tô BKS 73N1-0612, xe mô tô BKS 73N1-0612 được dựng trước sân của G ô tô T, đầu xe mô tô quay hướng Đ2 - Bắc, đuôi xe mô tô Tây - Nam, trục bánh trước bên phải xe mô tô cách mép đường chuẩn 7,1m (đánh dấu số 5).
* Kết quả khám nghiệm các phương tiện gây tai nạn:
- Xe mô tô BKS 73N1-0612, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ: Đầu ngoài tay cầm lái phía bên trái có dấu vết trượt xước kích thước (3 x 2,5)cm. Phần giữa cánh mang bên trái có dấu vết trượt xước nhựa kích thước (5x1)cm. Mặt ngoài phía trước tay phanh bên phải có vết cà trượt, kích thước (16x12)cm. Đầu ngoài gác để chân phía trước bên trái có dấu vết trượt xước mài mòn kim loại, cao su, bám dính bụi kích thước (4,5×4,5)cm. Bên trái tay dắt sau có dấu vết trượt xước kim loại kích thước (2x2,5)cm.
- Xe ô tô đầu kéo BKS 38H-007.30 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94 không phát hiện dấu vết va chạm có liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 31/10/2023.
* Kết luận giám định dấu vết cơ học của Phòng K3 Công an tỉnh Q: Tại Bản kết luận số: 1047/KL-KTHS, ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q kết luận cụ thể như sau: Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô đầu kéo biển số 38H-007.30 và sơ mi rơ mooc biển số 38R-016.94 với xe mô tô biển số 73N1- 0612. Các dấu vết trượt xước ở bên trái xe mô tô biển số 73N1-0612 có đặc điểm phù hợp với tình huống xe mô tô bị ngã nghiêng sang trái va chạm với mặt đường tại hiện trường.
* Kết quả giám định Số máy, Số khung nguyên thủy của xe mô tô 73N1-0612:
Tại bản kết luận số 01/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K3 công an tỉnh Q, kết luận: Xe mô tô gắn biển số 73N1-0612, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ cần giám định đọc được “RLCS5C6308Y063310” là số khung nguyên thủy; Số máy hiện tại của xe mô tô cần giám định đã bị đục phá, quá trình giám định tái hiện được số máy nguyên thủy là “5???06331” (Vị trí “” là ký tự bị đục phá không tái hiện được).
Ngày 07/12/2023 Cơ quan CSĐT có Công văn số: 1671/CV-ĐTTH đề nghị sau: Tra cứu số khung: RLCS5C6308Y63310, không tìm thấy đăng ký. Số máy Công an thị xã B tra cứu thông tin của xe mô tô 73N1- 0612 có kết quả như không đủ điều kiện để tra cứu. Ngày 18/12/2023 Cơ quan CSĐT tiến hành tra cứu Cơ sở dữ liệu vật chứng đối với xe mô tô 73N1- 0612, không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng.
* Kết quả khám nghiệm tử thi và kết luận giám định nguyên nhân chết: Tại Bản kết luận giám định số 1029/KL-PY, ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q, kết luận đối với nạn nhân Trần Thị H1: Nguyên nhân chết là mất máu cấp do dập rách động mạch chậu ngoài, vỡ xương chậu, bầm dập cơ diện rộng.
* Kết quả giám định Dữ liệu điện tử: Tại bản kết luận số 1048/KL-KTHS, ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video cần giám định. Không đủ cơ sở để xác định nội dung hình ảnh video phát trên màn hình xuất hiện trong mẫu cần giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa không do đây là hình ảnh phát lại, không phải là hình ảnh phát trực tiếp. Không tiến hành giám định các nội dung yêu cầu tiếp theo do không xác định được hình ảnh phát trên màn hình xuất hiện trong mẫu cần giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không.
* Kết quả kiểm tra, xét nghiệm của những người liên quan: Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở ngày 31/10/2023 của Nguyễn Nam H là 0.000 Mg/L, của ông Trần Văn L1 là 0.000 Mg/L. Test kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu của anh Nguyễn Nam H và anh Trần Văn L1 có kết quả âm tính.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ: 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 38H - 007.30 kéo theo Sơ mi rơ mooc BKS 38R - 016.94 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha S, BKS 73N1 - 0612 đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô đầu kéo BKS 38H-007.30; 01 giấy chứng nhận kiểm định của Sơ mi rơ mooc BKS 38R- 016.94; 01 giấy biên nhận thế chấp của xe ô tô đầu kéo BKS 38H- 007.30; 01 giấy biên nhận thế chấp của Sơ mi rơ mooc BKS 38R-016.94; 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Nam H; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Văn L1. Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe ô tô đầu kéo BKS 38H - 007.30 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 38R- 016.94 và giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu của Công ty TNHH K1; trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Văn L1 cho ông L1. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 73N1 - 0612 do không rõ nguồn gốc, không có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy nên Cơ quan điều tra đã thông báo và chuyển xe mô tô trên đến Công an thị xã B để xử lý theo quy định của pháp luật. Riêng giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Nam H được tiếp tục tạm giữ và lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Nam H đã thoả thuận bồi thường cho gia đình bị hại Trần Thị H1 số tiền là 185.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền và cam kết không khiếu kiện, khiếu nại gì thêm về phần dân sự.
Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKSBĐ, ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Nam H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Nam H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Nam H từ 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; về trách nhiệm dân sự: không xem xét; về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Nguyễn Nam H 01 Giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông Vận tải thành phố H cấp ngày 09/4/2021; về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Nam H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Nam H nhất trí với tội danh và khung hình phạt như bản Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không có ý kiến tranh luận;
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày là rất ân hận về hành vi của mình, hứa sẽ không tái phạm và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện rất khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều khai nhận: vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 31/10/2023, tại Km623+400 QL1A thuộc địa phận tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, Nguyễn Nam H điều khiển xe ô tô dầu kéo biển kiểm soát 38H – 007.30 kéo theo sơ mi rơ móoc biển kiểm soát 38R – 016.94 đi lùi từ trong bãi đất trống ra đường Q, do thiếu chú ý quan sát đảm bảo an toàn và không bật đèn tín hiệu xi nhan cảnh báo lùi xe nên đã gây tai nạn cho xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 73N1 – 0612 do ông Trần Văn L1 điều khiển chở bà Trần Thị H1 ngồi phía sau, khiến bà H1 bị bánh sau cùng bên phải của sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 38R – 016.94 đè lên người. Hậu quả bà H1 bị thương nặng sau đó tử vong.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng đã thu giữ; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, với các kết luận giám định về pháp y, phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa; đúng như nội dung của bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hành vi điều khiển xe đi lùi thiếu chú ý quan sát và không bật đèn tín hiệu của Nguyễn Nam H đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Giao thông đường bộ. Mặc dù phương tiện mà H điều khiển không trực tiếp va chạm với xe mô tô mà ông L1 điều khiển nhưng việc lùi xe ra đường Q mà không có tín hiệu cảnh báo trong điều kiện trời tối, có mưa là nguyên nhân trực tiếp khiến ông L1 phải xử lý phanh xe làm xe mô tô cùng ông L1, bà H1 ngã ra đường và bà H1 bị bánh xe sơ mi rơ móoc đè lên gây thương tích dẫn đến tử vong. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Nam H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại trực tiếp đến tính mạng của bị hại trong vụ án, đồng thời gây thiệt hại về tinh thần, nỗi đau thương mất mát lớn cho gia đình bị hại. Bị cáo đã được đào tạo và cấp giấy phép lái xe hạng FC đúng quy định, có đủ nhận thức và hiểu biết về việc đảm bảo an toàn khi điều khiển phương tiện giao thông có mức độ nguy hiểm cao như xe sơ mi rơ móoc, tuy nhiên vì chủ quan, cẩu thả trong quá trình điều khiển, vận hành xe mà bị cáo đã thực hiện không đúng quy định của Luật Giao thông đường bộ để dẫn đến tai nạn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục cho bị cáo và mang tính phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau: bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị L đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, đại diện gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng, Nguyễn Nam H thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, sau khi sự việc xảy ra đã tự giác trình báo, hợp tác với Cơ quan điều tra để làm rõ sự việc, đồng thời đã nhanh chóng thăm hỏi, bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự để phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp và cũng đã đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo đã thoả thuận và bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại. Các bên cam đoan không khiếu nại, khiếu kiện gì về sau. Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, trong quá trình điều tra không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ các vật chứng liên quan và xử lý trả lại vật chứng không liên quan đến vụ án cho các chủ sở hữu, chuyển vật chứng là xe mô tô biển kiểm soát 73N1 – 0612 đến Công an thị xã B xử lý do xe không rõ nguồn gốc, không có giấy chứng nhận đăng ký. Xét thấy các quyết định này là đúng quy định, phù hợp pháp luật, không ai có ý kiến, yêu cầu gì thêm về việc xử lý các vật chứng này nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Vật chứng đã bị thu giữ còn lại gồm 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông Vận tải thành phố H cấp ngày 09/4/2021 mang tên Nguyễn Nam H hiện đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án. Giấy phép lái xe này thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Nam H và không còn ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên cần căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại ngay giấy phép lái xe này cho bị cáo Nguyễn Nam H.
[8] Liên quan trong vụ án:
Liên quan trong vụ án có ông Trần Văn L1 là người trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73N1 – 0612 chở bà Trần Thị H1 lưu thông trên Quốc lộ A, khi phát hiện xe đầu kéo biển kiểm soát 38H – 007.30 kéo theo sơ mi rơ móoc biển kiểm soát 38R – 016.94 đi lùi từ trong bãi đất trống ra đường Q nhưng không có tín hiệu cảnh báo thì khoảng cách đã quá gần không thể xử lý kịp, dẫn đến xe mô tô bị ngã nghiêng ra đường. Xét thấy khi điều khiển xe mô tô ông L1 đã tuân thủ đúng các quy định của Luật giao thông đường bộ, không có lỗi trong việc xảy ra tai nạn; sự việc đối với ông L1 thuộc trường hợp “Sự kiện bất ngờ” được quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông L1 là phù hợp.
[9] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Nam H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nam H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam H 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/7/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Nam H cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Nam H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
4. Về vật chứng vụ án:
Trả lại ngay 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông Vận tải thành phố H cấp ngày 09/4/2021 mang tên Nguyễn Nam H cho bị cáo Nguyễn Nam H (Vật chứng đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án).
5. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Nam H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt tại phiên toà) hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án (đối với người vắng mặt tại phiên toà).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, xem xét về vật chứng vụ án
