Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 30/2024/HS-ST
Ngày 31 tháng 05 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toà phiên toà: ông Đinh Xuân Tường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Duy Quyết.
  2. Ông Hoàng Quốc Trị.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Vũ Văn Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 31/05/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST- HS ngày 12/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST- HS ngày 16/05/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn V, tên gọi khác: không, sinh năm 1993 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Đinh Thị N; vợ là Đinh Thị T; con: có 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Khắc A, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị Hương L1, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn V là người không có việc làm ổn định. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/10/2023, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu lisohaka màu xanh biển kiểm soát 29T5-6333, đi đến cửa hàng “T2” ở thôn L, xã G, huyện G của chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã G, huyện G để mua hàng. Do không có tiền tiêu sài cá nhân, thấy cửa hàng chỉ có mình chị T1 bán hàng, nên V đã nảy sinh ý định, lợi dụng lúc chị T1 sơ hở trộm cắp quyển lý để chiếm đoạt tài sản. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, V đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai màu đen, mặc áo chống nắng, điều khiển xe mô tô dừng ở miếu Q (đối diện cửa hàng tạp hóa của chị T1) để quan sát, chờ đợi chị T1 ra ngoài. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi chị T1 đóng cửa quán, điều khiển xe mô tô đi về hướng về phía trại mĩu M. Thấy trong cửa hàng không có người, Vo dừng chiếc xe mô tô của mình tại cửa miếu Q, đi bộ quan sát thấy khu vực xung quanh cửa hàng vắng người, phía sau cửa hàng có 01 cánh cửa bằng tôn màu đỏ đang chốt cài bên trong, V đi đến dùng hai tay luồn xuống khe phía dưới cửa, kéo mạnh để bẻ cong miếng tôn, nhưng chỉ tạo được khe hở nhỏ. Sau đó, V nhặt ở gần đó 01 thanh gỗ dài 276 cm, kích thước (6x10) cm, luồn vào khe hở đã bẻ tấm tôn, làm tấm tôn bị cong hở ra khoảng trống, vừa đủ để V chui vào trong cửa hàng. Vo đi đến khu vực quầy bán hàng, mở ngăn thứ nhất thấy bên trong có 03 ngăn nhỏ để nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau. Vo tiếp tục kéo ngăn kéo thứ hai thấy bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen model SM-A750GN/DS, không lên nguồn, bị bung mặt lưng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 màu vàng còn hoạt động trong đó có 01 túi nilon màu đen ở quầy hàng, bỏ toàn bộ số tiền lấy trong ngăn kéo và 02 chiếc điện thoại di động vào trong túi nilon. Sau đó, V đi vào giang phòng ngủ không có cửa ra vào, trong với quầy để hàng tạp hóa, thấy 01 con lợn bằng sứ kích thước (10x10x10)cm, để trên giá sách trong phòng, V cầm con lợn sứ lắc mạnh, biết bên trong con lợn có tiền, Vo bỏ con lợn vào trong chiếc túi nilon đen, rồi tháo tát ra ngoài theo lối đã vào. Sau khi lấy được tài sản, V để túi nilon ở giá để hàng xe mô tô biển kiểm soát 29T5-6333, rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực thôn Đ, xã G, huyện G là khu vực ít người qua lại, Vo lấy con lợn đất trong túi nilon đập vỡ kiểm đếm được số tiền 40.000.000 đồng, còn số tiền V lấy ở ngăn kéo trong quầy hàng đếm được số tiền 5.200.000 đồng. Sau đó V cầm toàn bộ số tiền kéo vào chỗ nghỉ rồi đi về nhà. Sau khi về nhà, V cất giấu 02 chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp được ở dưới đệm trên giường phòng ngủ của mình. Buổi chiều ngày 27/10/2023, V đã lấy 25.000.000 đồng để trả nợ cho anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1998, trú tại thôn P, xã G, trả nợ cho anh Nguyễn Khắc A, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã G, huyện G số tiền 20.000.000 đồng, còn lại 200.000 đồng V cất giữ. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi quay lại cửa hàng, chị T1 phát hiện cửa hàng tạp hóa của mình bị kẻ gian đột nhập trộm cắp tài sản, nên đã làm đơn trình báo Công an xã G, đề nghị giải quyết. Cơ

quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã thu thập dữ liệu camera tại cửa hàng, nghi ngờ Phạm Văn V là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại cửa hàng. Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Văn V để xác minh, làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ tại hiện trường 01 thanh gỗ dài 276cm, tiết diện (6x10)cm; thu giữ tại khu vực bãi đất thuộc thôn Đ, xã G, huyện G 11 mảnh vỡ bằng sứ (bao gồm 01 mảnh vỡ lớn có hình dáng con lợn và 10 mảnh vỡ nhỏ có chất liệu, màu sắc tương đồng). Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Phạm Văn V ở thôn A, xã G, huyện G thu giữ dưới đệm trên giường phòng ngủ của Phạm Văn V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, Imei 1: 358301071400378, Imei 2: 358302071400376 bị nứt màn hình, 01 cạnh xung quanh bị tróc sơn và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, model: SM- A750GN/DS, không lên nguồn, bị bung mặt lưng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ có kính, in chữ “Safe” màu xanh; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ caro màu xám - trắng, logo “N&H”; 01 đôi dép lê màu đen in hình con đại bàng; 01 chiếc quần đùi màu đen có kẻ sọc màu trắng; 01 chiếc áo dài tay có mũ màu xanh than loại áo chống nắng trước ngực có in dòng chữ “Sunway”; Phạm Văn V tự nguyện giao nộp 01 mũ bảo hiểm (loại mũ lưỡi chai, màu xanh đen), 01 xe mô tô nhãn hiệu lisohaka biển kiểm soát 29T5-6333 và số tiền 200.000 đồng; anh Nguyễn Văn L đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 25.000.000 đồng và anh Nguyễn Khắc A tự nguyện giao nộp số tiền 20.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KLĐG-HĐ ngày 07/11/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện G, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, model: SM- A750GN/DS, không lên nguồn, bị bung mặt lưng trị giá 430.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng, model: J7, Imei 1: 358301071400378, Imei 2: 358302071400376 bị nứt màn hình, 01 cạnh xung quanh bị tróc sơn trị giá 740.000 đồng; 01 con lợn bằng sứ, màu trắng đỏ, kích thước (10x10x10)cm trị giá 30.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản Phạm Văn V chiếm đoạt là 46.400.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKS-GV ngày 10/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Phạm Văn V ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu

hủy: 01 thanh gỗ dài 276cm, kích thước (6x10)cm; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ có kính, in chữ “Safe” màu xanh; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ caro màu xám - trắng, logo “N&H”; 01 đôi dép lê màu đen in hình con đại bàng; 01 chiếc quần đùi màu đen có kẻ sọc màu trắng; 01 chiếc áo dài tay có mũ màu xanh than loại áo chống nắng trước ngực có in dòng chữ “Sunway” và 01 mũ bảo hiểm (loại mũ lưỡi chai, màu xanh đen).

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của bị cáo Phạm Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ, và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 27/10/2023, tại cửa hàng tạp hóa “T”, địa chỉ: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, của chị Nguyễn Thị T1, bị cáo V đã có hành vi đột nhập vào trong cửa hàng trộm cắp trong ngăn kéo quầy bán hàng 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã cũ; 5.200.000đ tiền mặt và 01 con lợn sứ để ở trên giá sách trong phòng trong con lợn có 40.000.000đ tiền mặt. Tại kết luận định giá tài sản số 14/KLĐG-HĐ ngày 07/11/2023 của hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện G 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã cũ có tổng giá trị là 1.170.000đ; 01 con lợn sứ trị giá là 30.000đ. Như vậy tổng giá trị tài sản bị cáo V trộm cắp tại cửa hàng của chị Nguyễn Thị T146.400.000 đồng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Từ căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo V có hành vi trộm cắp tài sản tại cửa hàng “T” địa chỉ: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình của chị Nguyễn Thị T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố bị cáo V là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trước lần phạm tội này bị cáo V chưa có lần nào bị Tòa án kết án và thuộc tội phạm ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật

[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt bị cáo là đủ nghiêm khắc, đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ xung: xét bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra trong vụ án này Nguyễn Văn L và anh Trần Khắc A1, là người được bị cáo V dùng tiền trộm cắp để trả nợ. Quá trình điều tra đã xác định, để trước đây bị cáo V vay tiền của anh L và anh Khắc A1, bị cáo V đã lấy số tiền này để trả nợ cho anh L và anh Khắc A1, anh L và anh Khắc A1 không biết số tiền đó bị cáo V phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với LKhắc A1 là phù hợp quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu lisohaka màu xanh biển kiểm soát 29T5-6333. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Hương L1, sinh năm 1982, trú tại thôn P, xã G, huyện G (là chị họ của bị cáo V), ngày 26/10/2023 bị cáo Vo mượn xe mô tô của chị L1 làm phương tiện đi trộm cắp tài sản chị L1 không biết. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị L1, là phù hợp quy định pháp luật.
  • - Đối với số tiền 45.200.000 đồng (bao gồm: 200.000 đồng bị cáo V tự nguyện giao nộp, số tiền 25.000.000 đồng anh Nguyễn Văn L tự nguyện nộp, số tiền 20.000.000 đồng anh Nguyễn Khắc A tự nguyện giao nộp); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, model: SM- A750GN/DS, không lên nguồn, bị bung mặt lưng. Quá trình điều tra xác định, các tài sản trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại các tài sản trên cho chị T1, là phù hợp quy định của pháp luật.
  • - Đối với 01 thanh gỗ dài 276cm, kích thước (6x10)cm; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ có kính, in chữ “Safe” màu xanh; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ caro màu xám - trắng, logo “N&H”; 01 đôi dép lê màu đen in hình con đại bàng; 01 chiếc quần đùi màu đen có kẻ sọc màu trắng; 01 chiếc áo dài tay có mũ màu xanh than loại áo chống nắng trước ngực có in dòng chữ “Sunway” và 01 mũ bảo hiểm (loại mũ lưỡi chai, màu xanh đen). Quá trình điều tra xác định, đây là công cụ V sử dụng để phạm tội, là vật chứng của vụ án, vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo V không yêu cầu nhận lại. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
  • [7] Về trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn Thị T1 đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị cáo V đã trộm cắp bao gồm: 45.200.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, model: SM- A750GN/DS, không lên nguồn, bị bung mặt lưng, đối với con lợn đất bị cáo V đập vỡ có giá trị không lớn, chị T1 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường. Nên về trách nhiệm dân sự trong vụ án này Hội đồng không xem xét giải quyết.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[9] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Phạm Văn V 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (năm mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/05/2024. Giao bị cáo V cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo V có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G giám sát giáo dục bị cáo V.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy 01 thanh gỗ dài 276cm, kích thước (6x10)cm; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ có kính,

in chữ “Safe” màu xanh; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ caro màu xám - trắng, logo “N&H”; 01 đôi dép lê màu đen in hình con đại bàng; 01 chiếc quần đùi màu đen có kẻ sọc màu trắng; 01 chiếc áo dài tay có mũ màu xanh than loại áo chống nắng trước ngực có in dòng chữ “Sunway” và 01 mũ bảo hiểm (loại mũ lưỡi chai, màu xanh đen).

Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/04/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.

3. Về án phí: bị cáo Phạm Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VT;
  • (Thông báo cho chính quyền
  • địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Xuân Tường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Võ PT trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger