Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGUYÊN BÌNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 30/2024/HS -ST

Ngày: 09-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Thanh Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ma Thanh Khỏe

Bà Lãnh Thị Muôn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Phong - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa ánh nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Trung K (tên gọi khác: không có), sinh ngày 24/4/1983, tại Bạch Thông, Bắc Kạn.

Nơi ĐKKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã V, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M, sinh năm 1952 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1960; Anh chị em ruột: có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Triệu Thị C, sinh năm 1990; Con: có 01 con sinh năm 2006; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/05/2009, Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 20/03/2014, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Nguyên Bình (từ ngày 04 tháng 05 năm 2024 đến nay).

- Bị hại: Đặng Thị L, sinh năm 1984; Địa chỉ: Xóm N, xã Q, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Đặng Hùng Ng, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm N, xã Q, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt
  • + Phạm Văn M, sinh năm 1980; Địa chỉ: Xóm Đ, xã V, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
  • + Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Người làm chứng

  • + Lương Đức Th, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Văng mặt
  • + Đặng Phúc T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm N, xã Q, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 45 phút, ngày 04 tháng 05 năm 2024, Đặng Thị L (sinh năm 1984 trú tại xóm Nà Lèng, xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) trình báo Công an xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình về việc: Có hai đối tượng vào sân nhà bà Lan lấy trộm 01 máy cưa xích, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu cam, có lam dài khoảng 80 cm. Sau khi tiếp nhận nguồn tin Công an xã Quang Thành phối hợp với Công an xã Thành Công phối hợp truy bắt được Phạm Trung K, (sinh năm 1983, trú tại Thôn Đ, xã V, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 16 K8 - 3783 chở Lương Đức Thành, (sinh năm 1984, Trú tại Thôn T, xã V, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn) ngồi sau giữ 01 máy cưa xích, trên đường tỉnh lộ 212 thuộc địa phận xóm Nà Bản, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ xe máy cùng máy cưa.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình đã ra yêu cầu định giá tài sản số 260 ngày 06/5/2024. Tại kết luận số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 07/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nguyên Bình kết luận: Một máy cưa xích, màu cam, nhãn hiệu Husqvarna (365), lam dài 80 cm, sản xuất năm 2021, máy cưa cũ đã qua sử dụng, thời điểm định giá tháng 05 năm 2024 có giá trị là: 7.500.000 đồng.

Qua điều tra, Phạm Trung K và Lương Đức T khai nhận như sau: K và Thành đến làm thợ xây cho gia đình anh Đặng Hùng N, (sinh năm 1985, trú tại xóm N, xã Q, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) là chồng bà Đặng Thị L từ ngày 02 tháng 5 năm 2024; Đến khoảng 10 giờ, ngày 04 tháng 5 năm 2024 K và T xin N nghỉ làm, để K đưa Thành về quê chữa bệnh (buổi sáng cùng ngày T bị tái phát bệnh động kinh). Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày hai người chuẩn bị đồ đạc để đi về nhà, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 16 K8 - 3783 chở T đến nhà Ngân để lấy mũ bảo hiểm. K vào nhà thì thấy bà Lan đang ngủ ở ghế, gọi không thấy thưa, K lấy mũ bảo hiểm xong đi ra sân nhà thấy có 01 máy cưa xích, màu cam nên nảy sinh ý định trộm mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, K cầm mũ bảo hiểm ra ngoài xe đưa cho T, sau đó quay lại sân nhà quan sát không ai để ý nên đã trộm máy cưa của bà Lan để lên sau xe bảo T giữ hộ (trên đường đi K không nói với Thành về nguồn gốc của máy cưa là do K trộm cắp mà có và T cũng không hỏi), đi đến tỉnh lộ 212 thuộc xóm Nà Bản, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng thì bị Công an xã Quang Thành và Thành Công bắt quả tang và tạm giữ máy cưa trên.

Quá trình điều tra, Phạm Trung K thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Các vật chứng, tài sản đã tạm giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo đúng quy định (Có biên bản kèm theo);

Hành vi của Phạm Trung K đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSNB ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Phạm Trung K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Phạm Trung K thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại bà Đặng Thị L vắng mặt tại phiên tòa có đơn trình bày: việc bà bị Phạm Trung K trộm 01 chiếc cưa máy đúng như nội dung vụ án đã nêu trên. Bà không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì và có yêu cầu HĐXX xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn TH vắng mặt tại phiên tòa có đơn trình bày: Tôi là anh trai của bị cáo Phạm Trung K, chiếc xe máy nhãn hiệu ORIENTAL, màu xanh, biển kiểm soát 16K8-3783 là của anh, việc bị cáo K sử dụng vào việc trộm cắp tài sản anh không được biết. Anh yêu cầu được lấy lại chiếc xe máy này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Trung K về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • - Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Trung K từ 12 đến 18 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên không đề nghị xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị hại Bàn Văn Th 01 một máy cưa xích (máy xăng) đã qua sử dụng, nhãn hiệu Husqvarna 353, màu vàng cam.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Trung K không có ý kiến tranh luận đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp K mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trung K không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Trung K phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án như: Lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng có trong hồ sơ vụ án. Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 04/5/2024, Phạm Trung K đã đến nhà bà Đặng Thị L (trú tại xóm Nà Lèng, xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) trộm của bà Lan 01 chiếc máy cưa xích, màu cam, nhãn hiệu Husqvarna có giá trị: 7.500.000 đồng mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, trên đường đi về đến lộ 212 đi xã Thành Công, thì bị Công an bắt quả tang và tạm giữ máy cưa trên. Hành vi của Phạm Trung K đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố bị cáo Phạm Trung K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội Trộm cắp tài sản

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

..."

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Trung K phạm tội Trộm cắp tài sản và xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Hội đồng xét xử nhận thấy, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

  • - Về nhân thân: Bị cáo Phạm Trung K có nhân thân xấu. Ngày 26/05/2009, Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 20/03/2014, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Không
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phạm Trung K từng bị kết án về Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bản thân không chịu tu dưỡng mà tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản, qua đó thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm bán lấy tiền để bản thân sử dụng, bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân vì phải thường xuyên đề cao cảnh giác.

Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết định khung và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Phạm Trung K không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại Đặng Thị L 01 một máy cưa xích đã qua sử dụng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu cam, có lam dài khoản 80cm, sản xuất năm 2021.

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn Tháp 01 xe máy nhãn hiệu ORIENTAL, màu xanh, biển kiểm soát 16K8-3783, số máy VPDOR152FMH0030395, số khung VPDBCH013PD030395, không có gương chiếu hậu, yên xe bị rách 2 bên hông vị trí người lái.

[6] Về án phí: Bị cáo Phạm Trung K phải chịu án phí án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Trung K 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 04/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại Đặng Thị L 01 một máy cưa xích đã qua sử dụng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu cam, có lam dài khoản 80cm, sản xuất năm 2021.

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn Tháp 01 xe máy nhãn hiệu ORIENTAL, màu xanh, biển kiểm soát 16K8-3783, số máy VPDOR152FMH0030395, số khung VPDBCH013PD030395, không có gương chiếu hậu, yên xe bị rách 2 bên hông vị trí người lái.

Số vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 30 ngày 14/8/2024.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Trung K phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo quyền kháng cáo cho bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Đặng Thị L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn Th vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Đội ĐTTH – CA huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu AV.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Nông Thanh Chuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS -ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Trung K 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 04/5/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger